Lễ Tự tứ mãn hạ tại Tổ Đình Quan Âm tu viện.
Vào lúc 19h00, chung bản vừa dứt, Đại Đức Chơn Nghĩa, Tri sự Chánh chúng trường hạ, thay mặt đại chúng dâng lời tri ân và khánh thọ đến Hòa thượng Trưởng lão trong việc chủ trì tổ chức an cư tại Tổ đình cũng như trong Môn phong thành tựu viên mãn.
Trước khi cử hành lễ Tự tứ, chư tôn đức cung thỉnh Hòa Thượng Trưởng ban Thường Trực Môn phong, Thiền chủ kiêm luật sư thừa hành pháp sự lễ Tự tứ của chư Tăng tại trú xứ Tổ đình Quan Âm và chư Tăng trong môn phái.
Dưới sự chủ trì niêm hương, của Hòa thượng Tuyên luật sư - Bỉnh pháp Yết-ma, chư vị Tỳ-kheo đối thú trước Hòa thượng Tự tứ nhân thành kính sám hối những lỗi lầm của mình đã phạm, khẩn cầu chư tôn đức hoan hỷ giáo thọ và thành tâm sám hối để được thanh tịnh.
Nét rêu phong, cổ kính của ngôi Tổ đình toát nên vẻ uy nghi, trang trọng trong ngày lễ tự tứ, như vị ngọt cam lồ trên đảnh môn, ánh hào quang rạng ngời trên khuôn mặt hoan hỷ của chư hành giả, gợi nhớ về dòng lịch sử, tại Tinh xá Đức Từ phụ Thế tôn cùng chư tôn đức phạm hạnh an trú, Thầy trò tinh nghiêm giới hạnh, là nền tảng cho chánh pháp lưu truyền tại thế gian, lợi lạc cho chư Thiên và loài người, từ đây Thiên chúng được hoan hỷ vì cung trời tăng ích, loài người an lành với sự an lạc nội tâm, tịch tĩnh, nhu nhuyến thuần tịnh.
Tự tứ tiếng Pàli Pavàranà; Phạn là pravàranà, Hán phiên âm là bát-hòa-la, bát lợi ba thích noa và dịch là tự tứ, thỉnh thỉnh, tùy ý, tùy ý sự, mãn túc, hỷ duyệt,…
Pravàranà, Phật đà thập và trúc đạo sinh dịch là Tự tứ ( Ngũ phần luật 19, Đại chính 22, tr 130c). Tự là tự mình, tứ là buông ra. Nghĩa là vị tỳ kheo sau khi hạ an cư đủ ba tháng, tự mình buông ra lời nói thỉnh cầu một vị tỳ kheo khác đầy đủ năm đức, chỉ điểm những lỗi lầm cho mình qua ba mặt thấy, nghe và nghi, giúp cho mình biết và tự mình cầu xin sám hối để được thanh tịnh.
Ý nghĩa tự tứ là vậy, nên ở Trung A Hàm, Tăng già đề bà dịch là thỉnh thỉnh (Trung A Hàm 29, Thỉnh Thỉnh kinh, Đại Chính 1, tr 610); ở căn bản nhất thiết hữu bộ tỳ nại da, Nghĩa tịnh dịch là tùy ý sự (Đại Chính 23, tr 1044). Nghĩa là pháp tự tứ là tỳ kheo sau khi hạ đủ, tùy ý thỉnh tỳ kheo khác đủ năm đức chỉ bày cho ba sự gồm: Thấy việc sai lầm chỉ bày cho mình; nghe việc sai lầm chỉ bày cho mình và nghi ngờ việc sai lầm chỉ bày cho mình, để tự mình thấy có tội thì như pháp sám hối, khiến thân tâm trở lại thanh tịnh. Do sau khi mãn hạ, sám hối đúng pháp đối với ba sự: Kiến, văn và nghi, nên gọi là mãn túc và tự mình sinh tâm vui mừng, sau khi đã sám hối ba sự đúng pháp và được thanh tịnh, để nhận thêm tuổi hạ, nên gọi là hỷ duyệt. Và ở Luật Tứ Phần 37, Phật đà da xá và trúc phật niệm dịch là cầu thính. (Đại chính 22, tr 836b).
Pháp Tự tứ, một năm chỉ xảy ra cho tỳ kheo tăng một lần, sau khi hạ đủ. Nghĩa là tác pháp kết giới an cư vào ngày mười sáu tháng tư, thì thời điểm tự tứ thích hợp đối với tăng là ngày Rằm tháng bảy. Và nếu tác pháp kết giới hậu an cư, tức là vào ngày mười bảy tháng tư, thì thời điểm thích hợp cho tăng tác pháp tự tứ là ngày mười sáu tháng bảy,…
Tuy vậy, nhật kỳ Tự tứ, tăng có thể thay đổi để thích ứng những nhu cầu tu học thực tế, nhưng tăng phải tác pháp yết ma. (Tứ Phần Luật 38, Đại chính 22, tr 840b).
Nói tóm lại, thời gian thích hợp để tăng tác pháp Tự tứ là thời gian sau khi hạ đủ. Và Tự tứ của tăng Tỷ kheo một năm chỉ xảy ra một lần sau khi hạ đủ mà thôi.
Mục đích của tăng Tự tứ là ngoài việc biểu hiện cụ thể bản thể hòa hợp và thanh tịnh của tăng, còn xác định cụ thể sự tăng trưởng lớn mạnh về Giới- Định- Tuệ của một vị tỳ kheo, sau khi hạ mãn và chấm dứt kỳ hạn An cư, và các Tỷ kheo lại tiếp lên đường hoằng pháp.






