Bóng Mây Trên Đỉnh Non Bồng
Lược truyện Tôn sư Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Quang (1947 – 2023)
Ngước nhìn bóng hạc Bồng Lai, Nhang thơm nhớ lại những ngày đã qua...
I. Hạt Giống Bồ Đề Bên Dòng Tiền Giang
Giữa những ngày tháng Tư hiền hòa năm Đinh Hợi (1947), tại vùng quê Chợ Gạo, Tiền Giang, Người đã mỉm cười chào đời trong một nếp nhà thấm đẫm tình thương và đạo lý. Thân phụ là một vị lương y đức độ, thân mẫu là người gõ đầu trẻ hiền lương. Lớn lên giữa dòng phù sa nuôi dưỡng hình hài và những trang kinh ấp ủ tâm hồn, hạt giống bồ đề của cậu bé sớm nảy mầm tươi tốt. Giống như hình ảnh của Tôn giả Xá-lợi-phất (Sariputta) thuở thiếu thời, sớm nhận ra sự vô thường của thế gian để hướng về nẻo giác, hạt giống trí tuệ của cậu cũng được nung nấu từ rất sớm.
Năm 11 tuổi, cậu duyên lành được đảnh lễ và nương bóng vị Bồ tát hiện thân - Hòa thượng Thích Quảng Đức, mang vào đời tên gọi Nhuận Đức, bắt đầu những bước chân đầu tiên trên con đường tỉnh thức.
II. Gót Ngọc Rời Trần – Gửi Lòng Nơi Am Cốc
Mùa xuân năm Kỷ Hợi (1959), khi vừa tròn 12 tuổi, cậu bé Hữu Phước theo cha lên núi Dinh đảnh lễ Đức Tôn sư Thiện Phước. Ngay khi chạm ánh nhìn vào nụ cười của Tổ sư, chí xuất trần đã bừng sáng. Đầu năm 1960, Người chính thức khép lại cánh cửa thế gian, lưu gót tại Phật học đường Tây Phương Bồng Đảo, nhận pháp danh Giác Quang.
Tuổi đời còn xanh, nhưng chí nguyện thoát trần vô cùng mạnh mẽ. Ngài thuở ấy đã nhiều lần lui vào thâm sơn nhập thất. Người khép mình trong sự miên mật: ngày dùng một bữa, ba năm ròng rã ngủ ngồi không ngả lưng, đêm ngày trì tụng Pháp Hoa kinh. Hình ảnh bóng sa di trẻ tuổi tĩnh lặng tọa thiền giữa hoang vu làm ta liên tưởng đến Tôn giả Ma-ha-ca-diếp (Maha Kassapa) – vị đệ tử với hạnh Đầu-đà đệ nhất của Đức Phật, người đã từ bỏ mọi tiện nghi, lấy khổ hạnh làm phương tiện mài giũa viên ngọc tâm minh triết. Nhờ sự hun đúc khắc nghiệt ấy, Ngài đã trở thành đóa sen ngát hương giữa đời sống nhiều biến động.
Năm 1966, đến độ trăng tròn giáo lý, Ngài thọ Cụ túc giới, chính thức khoác y bát vân du muôn phương, đem suối nguồn cam lộ rưới mát những tâm hồn phiền não.
III. Bước Chân Hóa Đạo – Gắn Kết Đạo Đời
Suốt hơn nửa thế kỷ khoác áo cà sa, bước chân của Ngài chưa từng biết mỏi mệt. Trải qua 77 mùa trăng nơi cõi thế, 57 năm tắm gội nước nhành dương, đôi vai gầy bé nhỏ ấy đã nhẹ nhàng gánh vác bao trọng trách của Giáo hội và Tông môn.
Người giữ lửa cho Non Bồng: Ngài là bậc tòng lâm thạch trụ, trọn lòng phụng hành di huấn của Tổ Thầy, sát cánh cùng Ni trưởng Huệ Giác gieo trồng những mầm xanh Tỉnh thức. Dấu chân Ngài in trên hàng trăm hecta đất hoang vu, biến chúng thành những khu rừng rợp bóng mát mẻ. Giống như Tôn giả A-nan (Ananda) mang trái tim đa văn và lòng từ mẫn chăm lo cho Tăng đoàn, Ngài với cương vị Trụ trì Quan Âm Tu Viện và Trưởng Tông phong Liên tông Tịnh Độ Non Bồng, như bóng đại thụ dang tay ôm ấp hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử dưới bóng mát từ bi.
Người Thầy mô phạm: Bằng tuệ giác uyên thâm, Ngài chèo lái con thuyền chánh pháp qua bao cương vị: Thành viên HĐCM Trung ương GHPGVN, Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai. Tại các Hạ trường và Đại giới đàn, Ngài là bậc Giáo thọ sư, Giới sư Tôn chứng. Ngài nghiêm mật giữ gìn giới luật tựa như Tôn giả Ưu-ba-li (Upali) – bậc Trì giới đệ nhất, nhưng lại độ lượng, khoan dung với lớp hậu học như một người cha hiền, thể hiện trọn vẹn tinh thần "bi - trí - dũng".
Đạo Phật là đạo vào đời. Tinh thần này rực sáng tuệ giác của Phật giáo thời Lý - Trần, nơi các bậc minh quân thiền sư như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đề xướng triết lý "Cư trần lạc đạo" (Sống giữa trần tục mà vẫn vui với Đạo). Tiếp nối ngọn lửa thiêng ấy, với tinh thần lục hòa, Ngài dấn thân vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, nhiều nhiệm kỳ là Thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai. Ngài để lại cho đời hơn 60 đầu sách, thi kệ, trải lòng mình qua những vần thơ ngợi ca pháp môn Tịnh độ và tình yêu quê hương đất nước, minh chứng cho việc tu tập không phải là lánh đời mà là dấn thân để tịnh hóa nhân gian.
IV. Mây Trắng Thong Dong – Nụ Cười An Nhiên
Suốt cuộc đời, dẫu Phật sự đa đoan, Ngài vẫn giữ nếp sống khiêm cung, giản dị. Trở về thiền thất nhỏ đơn sơ, Ngài lại chong đèn đọc sách, nghiên cứu thâu đêm. Trái tim Bồ tát ấy chưa từng vướng bận vinh nhục, luôn mát mẻ thanh lương dẫu đối mặt với bao sự trái ngang của thế sự. Cốt cách ấy in đậm phong thái tự tại của Thiền sư Vạn Hạnh triều Lý: "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy / Thịnh suy như lộ thảo đầu phô" (Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi / Thịnh suy như giọt sương ngọn cỏ).
Rồi cũng đến lúc cỗ xe tứ đại mỏi mòn. Tấm thân hư huyễn mượn của đất trời đã đến kỳ hoàn trả. Những năm tháng cuối đời, dẫu mang bạo bệnh, Ngài vẫn an trú trong chánh niệm, đi thăm hỏi và giáo dưỡng đồ chúng không ngừng nghỉ, tột cùng của hạnh nguyện tự giác - giác tha.
Vào lúc 23 giờ đêm ngày mùng 8 tháng 4 năm 2023 (18/2 nhuận năm Quý Mão), khi trăng khuya đang tĩnh lặng chiếu soi nơi chốn tổ Quan Âm Tu viện, bậc chân nhân mỉm cười thư thái. Như một vị Sa môn phạm hạnh vô tác vô cầu trước giây phút tự tại, Ngài khẽ dặn dò các hàng đệ tử: "Bồ tát bất thối vi bạn lữ", rồi nhẹ nhàng khép đôi mắt sáng, thâu thần thị tịch.
Bóng mây trắng ấy dẫu đã bay ngang đỉnh Non Bồng, nhưng áng mây từ bi vẫn mãi chở che và nụ cười của Ngài vẫn còn ấm áp đọng lại giữa muôn vạn trái tim. Đạo nghiệp của Ngài đã hòa chung vào dòng chảy miên viễn của chư Tổ, chư Thánh tăng vạn đại.
