Đức Hòa Thượng Thượng Đức Hạ Quang
TIỂU SỬ CỐ HÒA THƯỢNG
THƯỢNG ĐỨC HẠ QUANG
(1904-1996)

1. Gia thế.
Cố Hòa thượng Thượng Đức Hạ Quang, ngài thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, pháp danh Thượng Đức Hạ Quang, biệt hiệu Bạch Y – thế danh: Nguyễn Sương, ngài sinh vào năm Giáp Thìn, niên hiệu Thành Thái năm thứ 16 (nhằm tây lịch 1904), tại làng Kim Thạch, xã Nghĩa Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài sinh trong một gia đình trung nông, nhiều đời kính tin Tam Bảo, phụ thân ngài là cụ ông Nguyễn Đương, hiền mẫu là cụ bà Phan Thị Cam. Ngài có bảy người anh em, ngài là người anh cả trong gia đình.
2. Thời kỳ trưởng thành.
Do có căn duyên với Phật Pháp nên từ thuở nhỏ Ngài đã biết đi chùa lễ Phật, nghe pháp. Sớm tiếp nhận được những tinh hoa của phật học. Ngài là người con hiếu thảo nhất với ông bà, cha, mẹ, biết kính trên nhường dưới, thương yêu anh em, đùm bọc lẫn nhau, hòa đồng cùng tất cả bạn bè và mọi người chung quanh, rất gần gửi và dễ mến. Ở tuổi thanh xuân năng động và tràng đầy nhiệt tâm với Phật Pháp, ngài vẫn phải vậng lệnh song đường mà thành gia lập thất, và gắn liền đời sống đạo đức nhân bản của con người.
Ngài có tất cả 8 người con, hiện nay có 2 người con gái cũng đã nối gót ngài xuất gia đầu phật, hiện đang trụ trì và tu học tại Tính Xá Bạch Y.
3. Thời kỳ xuất gia – học đạo.
Đến năm 1961, vì lòng ngưỡng mộ phật pháp, chí xuất trần ngày thêm mãnh liệt, Ngài xin phép song thân bỏ tục xuất gia. Trước ý chí và tâm thành xuất gia học đạo, Ngài rời quê hương và gia đình vân du khắp nơi trên miền đất Việt, rồi đến đất nước Campodia để tầm sư học đạo. Tại đất nước campodia ngài đã gặp được thầy Lục, nhưng cũng chưa tầm được sư. Ngài lại trở về đất nước Việt Nam, ngày đêm mong tìm được ngọn đèn sáng để soi rõ đường cho ngài đi đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.
Đến năm 1962, duyên lành đã đủ, ngài đặt chân đến vùng đất miền đông nam bộ Việt Nam và biết được nơi đây có Bậc minh sư đang giáo hóa và dẫn đường cho chúng sang đến bờ giác ngộ. Không quản gian lao, khó nhọc, với lòng tín tâm cầu đạo giải thoát Ngài tìm đến núi Dinh (núi Bồng Lai) nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tân Thành Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đến đây Ngài được gặp Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước, biệt hiệu là Mẫu Trầu, là vị tổ khai sơn tạo tự của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Ngài biết mình đã tìm đến đúng nơi, đúng đường để cầu giáo pháp tu học đạo giải thoát, nên ngài đã quy y, xuất gia đầu phật vơi Tôn Sư, được Ngài đặc pháp danh là Đức Quang. Ngài đã lưu lại nơi đây để chuyên tâm tu học theo giáo pháp của Đức Tôn Sư.
4. Thời kỳ hành đạo.
Sau một thời gian chuyên tâm tu học với Đức Tôn Sư, Đức Tôn Sư nhận thấy Ngài đã đủ duyên để hành đạo và hóa độ chúng sanh. Nên Đức Tôn Sư cho phép Ngài được hạ sơn, về vùng đất cao nguyên Di Linh (nay thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) để hành đạo. Thế là với một y, một bát lẵng lẽ dấn thân vào cuộc đời đầy sóng gió, bụi trần để cầu mong đem lại sự lợi lạc và con đường giải thoát cho chúng sanh đang giào khóc trong biển khổ vô minh.
Không quản khó nhọc Ngài đem giáo pháp giải thoát của Như Lai để giáo hóa chúng sanh, vừa tự lao động để duy trì thân tứ đại. Dù gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn nơi vùng đất còn nhiều hoan vu, dân cư thưa thớt, thuộc cao nguyên trung phần. Đến năm 1965 Ngài đã thành lập được Tịnh Xá Quan Âm, tại vùng đất Di Linh này, để phát dương phật pháp và hướng dẫn đồ chúng Phật tử tu học. Một thời gian sau đó khi Tịnh Xá đã được ổn định, Ngài giao ngôi Tịnh Xá Quan Âm cho để tử coi sóc và hướng dẫn đồ chúng. Ngài tiếp tục du hóa đến nơi khác để tiếp tục Phật sự.
Năm 1968 trên con đường hoằng pháp, Ngài đã dừng chân tại Liên Khương, Đức Trọng, Lâm Đồng. Nơi đây Ngài thành lập thêm một ngôi chùa lấy tên là Phi Lai Tự, và ngày đêm Ngài hướng dẫn Phật tử tu học theo chánh pháp. Đến lúc nơi này đã được hưng thịnh, Ngài tiếp tụ đi làm Phật sự khác.
Năm 1972, Ngài nhìn thấy được mãnh đất Quảng Ngãi, mọi người nơi đây còn rất khổ sở chưa được biết Phật Pháp, người dân còn nhiều khó khăn, khốn khổ, nên Ngài đành cất bước quay về lại quê hường, để gầy dựng giáo pháp tại quê nhà, và sau một thời gian Ngài thành lập thêm một ngôi chùa tại vùng đất này lấy hiệu là Thiên Thai Tự. Trong những thời gian Ngài lưu trứ và hành đạo tại nơi này, duyên lành cũng đưa Ngài đến với mãnh đất Bình Định, tại nơi đây ngài tiếp tục phụng hành Phật pháp, lập nên ngôi Bồng Sơn Tịnh Xá, để tiếp nhận đồ chúng Phật tử nơi đây.
Và cứ như thế, ngày qua ngày, với tâm niệm muốn đem chánh pháp của Chư Phật, Chư tổ truyền khắp muôn nơi, không từ gian nguy, khó khăn nghiên trì thực hành Bồ Tát hạnh. Cơ duyên đã đưa Ngài đến vùng đất Phan Rang, hầu hết người nơi đây làm nghề đánh cá. Ngài thấy vây không cầm được sự thương tâm, Ngài quyết định dừng chân tại mãnh đất duyên hải miền trung nam bộ này để hướng dẫn mọi người biết hướng đến con đường chánh kiến. Tại đó Ngài đã thành lập Tịnh Xá Ngọc Hải, với tâm nguyện hướng dẫn được mọi người nơi đây, biết ăn chay, niệm phát, làm lành lánh dữ.
Đến năm 1975, Ngài lại quay quả trở lại Phi Lai Tự, mặc dù giữa thời chiến, cuộc sống của nhân dân trong đạn bom, khói lửa cực khổ lầm than, Ngài không màng khó khăn, gian nguy đã chung tay khai hoang, giúp cho người dân nơi đây xóa đói giảm nghèo, và deo mầm chánh pháp.
Với tâm nguyện đem Phật Pháp đi đến muôn nơi, hầu đắp xây nền luân lý, đạo đức cho mọi người. Năm 1976, Ngài đặt chân vào vùng đất Định Quán, Đồng Nai tiếp tục khai hoang, chính tại nơi đây Ngài đã dựng lên ngôi Tịnh Xá Bửu Sơn, để ý nguyện đưa mọi người dân nơi đây biết tin tưởng phật pháp, thực hành thiện nghiệp, và một thời gian dài Ngài đã hành đạo tại vùng đất này.
Sau một thời gian dài vân du hành đạo nhiều nơi, Ngài trở về vùng đất miền đông thân thương, đến một vùng hẻo lánh, nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Một mãnh đất hoang vu, Ngài đã khai khẩn nơi này và xây cất lên một am thất nhỏ, tường lá mái tranh giữ hạnh thanh bần chuyên tâm tu học… Xét thấy cõi đời này là giả tạm, hợp rồi phải tan, không có gì trường tồn mãi mãi, chỉ có sự cầu tu giác ngộ giải thoát, nên Ngài chọn Nơi đây dừng chân thật sự, để hành đạo đến lúc mãn duyên trần. Và cũng tại nơi am thất này Ngài đã hết lòng hướng dẫn tăng ni, phật tử mọi nơi về đây tu học, theo tông chỉ của tổ thầy, ngày lẫn đêm tụng kinh, niệm phật, trì chú, nhất hướng chuyên niệm cầu sanh lạc quốc. Với hạnh nguyện cao vời của Ngài, hàng môn đồ pháp quyến đệ tử chúng con đã lấy danh hiệu của Ngài đặt tên cho am thất này là Tịnh Xá Bạch Y.
5. Viên mãn phật sự.
Mấy mươi năm trường kể từ khi thầy chúng con gặp được minh sư, thế phát xuất gia đầu phật cho đến lúc cuối đời khi Ngài thị tịch. Ngài đã dành hết tâm huyết, công sức để cống hiến cho Phật Pháp, cho tín đồ phật tử từ khắp mọi miền, không từ nan bất cứ một ai. Cả cuộc đời tâm nguyện Ngài luôn Truyền bá Chánh Pháp đi khắp muôn nơi. Vì thế khi Ngài có duyên đến vùng đất nào, thì Ngài dừng chân tại nơi ấy để tạo dựng nên một già lam, tịnh xá, hầu giúp cho mọi người nơi đó được biết phật pháp, ăn chay, niệm phật, tu thiện hành thiện, đó cũng chính là chỉ yếu của Đức Tôn Sư Tông Chủ Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.
Năm 1996, sức khỏe Ngài càng yếu dần đi, biết sự vô thường đến, thân tứ đại phải trở về với tứ đại. Nên Ngài đã săp xếp giao các công việc Phật sự lại cho các Chư Tăng Ni, để hướng dẫn phật tử tu học, và trông nôm các ngôi chùa, tịnh xá, mà Ngài đã khai sáng.
Ngài đã xả báu an tường viên mãn phật sự, vào ngày 26 tháng 02 năm Bính Tý nhằm ngày 13 tháng 4 năm 1996, Phật lịch 2539.
Công hạnh tu hành của Ngài, là năng tác phật sự cho môn nhân pháp quyến, là tấm gương sáng để hậu tấn soi chung, nói gót tu hành, đến ngày viên mãn.
Vì cả đời Ngài đã gieo trồng nhiều chủng nghiệp phước, nên mãn cuộc đời Ngài cũng được thảnh thơi nhẹ nhàng, quay gót về Tây ngơi nghỉ. Đã để lại cho hàng Môn Đồ Pháp Quyến một sự mất mát vô cùng to lớn, và cho tông môn huynh đệ mất đi một người pháp lữ chân tu, hàng tín đồ phật tử mất đi Đức Ân Sư vô vàn khả kính.
Dư âm xưa vọng về nơi Tịnh Xá
Hoài bảo nào lưu dấu bóng Ân sư
Thầm lặng khóc tiễn Thầy về Phật cảnh
Chân trời này ghi mãi bóng hình Thầy.
NAM MÔ BẠCH Y ĐƯỜNG THƯỢNG – TỪ LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG – THƯỢNG ĐỨC HẠ QUANG – HIỆU BẠCH Y HÒA THƯỢNG GIÁC LINH PHỦ THÙY CHỨNG MINH
