NGUYỄN NGỌC HÒA
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
TIN TỨC»TIN TỨC

Vai Trò Của Giáo Dục Phật Giáo Tại Việt Nam Và Các Nước Trên Thế Giới.

07/12/2019 20:23 3950

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM
VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.


Bài tham luận phát biểu tại Hội thảo Giáo dục Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Mình, ngày 7/12/2019.

Phật giáo là một trong những trường phái tư tưởng quan trọng nhất, đã phân tích mọi thứ một cách logic và có hệ thống. Phật giáo luôn tập trung vào hệ thống giáo dục dựa trên trí tuệ và định hướng giá trị hoặc theo một hệ thống giáo dục dựa trên trí tuệ rộng rãi dẫn đến sự hiểu biết đúng đắn về bất cứ điều gì. Để biết thực tế hoặc sự thật thực tế, chúng ta phải có một tầm nhìn đúng hoặc hiểu đúng về nó và do đó chúng ta nên hành động theo nó. Đó là lý do tại sao Phật giáo luôn bắt đầu với tầm nhìn đúng (sammᾱ-diṭṭhi), điều này được giải thích rõ trong học thuyết Phật giáo về Bát chánh đạo hay Aṭṭhaṅgiko maggo.

Mỗi khi đề cập về vấn đề giáo dục Phật giáo, người ta thường nghĩ đến ý nghĩa đào tạo, giáo dục không những có trách nhiệm đào tạo kiến thức Phật học và thế học để bổ sung kỹ năng hoằng pháp mà chức năng chính là đào tạo tác phong tư cách, rèn luyện ý chí kiên cường; tư tưởng thanh cao, xứng đáng là bậc Sa môn phạm hạnh, mô phạm trong chốn Thiền môn. Không những thế, người tu sĩ Phật giáo còn phải luôn tinh tiến phấn đấu, khẳng định lập trường vượt qua tất cả tài sắc danh lợi, kiện toàn bản lĩnh xứng đáng là người đệ tử xuất gia của Đức Phật.

Trên tinh thần đó, các lớp gia giáo, trường Phật học là tiền thân của nền giáo dục Phật giáo Việt Nam lần lượt ra đời, trong đó phải kể tới các lớp, trường như: Trường Phật học dành cho Ni chúng chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), lớp Phật học chùa Long Phước (Vĩnh Long), lớp luật học chùa Kim Huê (Đồng Tháp),... Trong tác phẩm 50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Thích Thiện Hoa cho biết, chỉ trong vòng hai thập niên đầu của cuộc chấn hưng, riêng Nam Bộ, số lượng các trường gia giáo, trường Phật học được thành lập lên đến khoảng 10 ngôi[11], trong đó có một số ngôi chùa được xây dựng mới như: Chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu, chùa Từ Lâm (Tây Ninh)....

Bên cạnh đó, các hội Phật giáo, Phật học đường cũng ra đời hàng loạt gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng. Chẳng hạn như Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và tờ tạp chí Từ Bi Âm ra đời ở Nam Kỳ vào tháng giêng năm 1932. Rồi sau đó, tháng 6 năm 1933, tờ nguyệt san Việt Âm ra đời ở Huế làm cơ quan nghiên cứu của Hội Phật học Trung Kỳ. Tháng 11 năm 1934 Hội Phật học Bắc kỳ được thành lập do Tổng đốc Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Năng Quốc đứng đầu. Năm 1935, Đuốc Tuệ ra đời làm cơ quan tuyên truyền cho Hội ấy[12]. [Trần Văn Giàu, 1993]. Ngoài ra, còn một số Hội và một số tờ báo nổi tiếng khác như: Hội Phật học Lưỡng Xuyên với tờ báo Duy Tâm, Hội Liên hữu Thiên Thai Thiền giáo tông với nguyệt san Bát Nhã Âm, Hội Phật học Nam Việt với tập san Từ Quang. Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, do Cụ Đoàn Trung Còn làm hội trưởng, chủ trương phiên dịch kinh điển, viết các đầu sách cung cấp kiến thức Phật học cho Tăng Ni, tín đồ Phật tử thời bấy giờ như: Tam thiên tự (3 cuốn: 1 cuốn in theo xưa Hán Việt, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Hán Việt Pháp, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Pháp Hán Việt); Ngũ thiên tự: 2 quyển: 1 quyển theo xưa, 1 quyển theo lối tự điển Hán, Việt, Pháp; Đạo lý nhà Phật, Chuyện Phật đời xưa, Văn minh nhà Phật, Triết lý nhà Phật, Lịch sử nhà Phật, Pháp giáo nhà Phật, Tăng đồ nhà Phật (1934), Các tông phái đạo Phật,... Phật học đường Phật Quang được khai giảng trở lại từ 1946 tại quận Trà Ôn tỉnh Trà Vinh do thiền sư Thiện Hoa chủ trì, Phật học đường Nam Việt, Phật Học đường Lưỡng Xuyên, Phật học đường Tây Phương do Hòa Thượng Thích Thiện Phước chủ trương thành lập, nhằm giáo hóa đồ chúng chuyên tu tịnh độ.

Và quan trọng nhất, hàng cư sĩ lỗi lạc tri thức, đã từng có vai trò quan trọng, có cống hiến hàng đầu đối với Giáo dục Phật giáo Việt Nam trong quá khứ đều là Phật tử, đã thọ trì Tam quy, Ngũ giới kính tin Tam bảo, làm Phật sự không biết mệt mỏi, kính trọng Tăng bảo,  và tôn làm Thầy, như cụ Mai Thọ Truyền quy y với Hòa thượng Thích Hành Trụ, được đặt pháp danh là Chánh Trí.  Bác sĩ Lê Đình Thám đã thành kính xin quy y với Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng ban cho pháp danh là Tâm Minh. Cụ Đoàn Trung Còn, Pháp danh Hồng Tại, là huynh đệ với các Ngài Hồng Tín, Ngài Hồng Ảnh, cống hiến nhiệt thành qua nhiều tác phẩm nghiên cứu kinh điển như: Tứ thư ngũ kinh; Từ điển Phật học Việt Pháp Hán Phạn; Đạo lý, văn minh, triết học, lịch sử, pháp giáo, Tăng Đồ nhà Phật;…[13]

Học tập chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc giáo lý tổng thể của Phật giáo. Học và nghiên cứu sâu văn bản (Pali: pariyatti ) được hiểu là một điều kiện cần thiết để duy trì Phật giáo và tín ngưỡng Phật giáo. Trong truyền thống của Phật giáo Ấn Độ sau khi triều đại của Hoàng đế Asoka (269-232 trước công nguyên), các học viện, tu viện lớn, hoặc các tịnh xá, là nơi được công nhận của việc nghiên cứu học tập. Học tập trong Phật giáo hậu Asoka không nhất thiết chỉ giới hạn trong nghiên cứu văn học kinh điển. Nalanda, trường đại học tu viện nổi tiếng ở Bihar ngày nay, ước tính có sức chứa 3.000 đến 5000.000 sinh viên, trong đó số lượng cũng bao gồm những người hành hương từ những nơi xa xôi như Trung Quốc hay vương quốc Silla của Hàn Quốc11. Nalanda, tồn tại giữa thế kỷ thứ năm và mười ba, được coi là đại diện của truyền thống giáo dục trong Phật giáo Ấn Độ. Một trường đại học đã được chính thức khôi phục hoạt động vào ngày 1 tháng 9 năm 2014, trong vùng lân cận của di tích lịch sử, được tài trợ bởi Chính phủ Ấn Độ và một số nhà tài trợ quốc tế.

Như các trường đại học Phật giáo lớn khác, mục đích của Học viện tại Thành phố Hồ Chí Minh là nhằm để đào tạo những Tăng ni sinh có kiến thức đại học về Giáo lý căn bản của các bộ phái Phật giáo, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, các vấn đề về Phật giáo nhập thế và văn hóa (Phật giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp cử nhân Phật học có thể tiếp tục học cấp cao học, tiến sĩ, trở thành nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Phật học, hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Phật sự tại Trung ương giáo hội, Ban Trị sự tại các tỉnh, thành toàn quốc.

Nếu như đề cập đến vấn đề giáo dục học viện mà không nói đến sự nghiệp phát triển hoằng pháp thì thật là điều thiếu sót. Điều này trong chốn thiền môn xưa nay ai cũng biết, nếu muốn truyền bá chánh pháp cho tất cả mọi người, nhất là những vùng sâu vùng xa, người làm công tác hoằng pháp, ngoài sự kiên định lập trường và hạnh nguyện cao cả, còn có cả một sự hy sinh vô cùng to lớn, nếu không được như Đức Phật thì tối thiểu cũng tương đương như các vị Tiên sư, Cổ đức. Chẳng hạn để nói lên sự hy sinh cao cả của Đức Phật Thích Ca, người xưa đã nói: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du. Kỳ vị sanh tử sự, giáo hóa độ xuân thu”. (Một bát cơm ngàn nhà, thân đi muôn dặm xa, chỉ vì việc sanh tử, giáo hóa tháng ngày qua). Đức Phật vượt bao khó khăn, trở ngại để truyền bá chánh pháp trong một đất nước ảnh hưởng nặng nề bởi các tôn giáo đa thần hay nhất thần, nặng mùi tín điều và lễ bái. Ngài Phú Lâu Na hoằng pháp nơi ngoại đạo dù ảnh hưởng đến sự an toàn ngài không ngần ngại, ngài Khương Tăng Hội bị nhà Ngô thách đố sự linh ứng, mầu nhiệm Phật pháp mới cho truyền đạo, Ngài Đạt Lai Lạt Ma 14 mặc dù không ở trên quê hương xứ sở của mình, nhưng tầm ảnh hưởng của ngài đối với quốc tế là rất lớn, hay chính đất nước Việt Nam cũng có Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thiền sư là người đưa ra khái niệm “Phật giáo dấn thân” (engaged Buddhism). Với những hoạt động không ngừng nghỉ của mình, Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma12, thật muôn vàn công hạnh mà hiện nay nếu mỗi học giả, hành giả chúng ta nỗ lực nhiệt thành cũng là gương sáng cho hậu thế muôn đời sau học hỏi và làm cho Phật giáo ngày càng phát triển bền vững đem lại hòa bình, hạnh phúc cho muôn loại chúng sanh.

Toàn văn tham luận:

 

VAI TRÒ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

ThS.ĐĐ.Thích Thiện Huy

1. DẪN NHẬP

Phật giáo đã có mặt trên đất nước Việt nam vào những ngày đầu của Kỷ nguyên tây lịch. Phật Giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ  vào Việt Nam qua con đường giao thương hàng hải, đường hồ tiêu…[1] trước rồi sau đó mới truyền qua Trung Quốc chứ không phải Phật Giáo từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam như những sách cũ đã ghi[2].

Theo sử gia Nhật Bản, ông Kamata, trong sách Trung Quốc Phật Giáo Thông Sử, xuất bản tại đại học Đông Kinh năm 1981, đã nhiều lần xác nhận rằng Phật Giáo đã du nhập vào Trung Quốc từ Việt Nam, có đoạn ông gọi là Việt Nam, có đoạn gọi là Giao Chỉ. Đề cập đến Phật Giáo Giao Chỉ tức là đề cập đến trung tâm Phật Giáo tại Luy Lâu[3]. 

Có thể nói Phật giáo Việt Nam luôn xứng đáng là thành viên đáng tin cậy nhất trong khối đại đoàn kết dân tộc. Bất cứ trong thời điểm nào, Phật giáo luôn gắn bó sẻ chia cùng dân tộc Việt nam thân thương này cho đến ngày nay. Vì vậy, trong đại hội Phật Giáo nhiệm kỳ 8 vừa qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã gửi lời chúc mừng thành công tới Đại hội, trong đó nhấn mạnh: “Từ xa xưa, giáo lý Phật giáo đã thấm nhuần vào trong đời sống của toàn thể người dân Việt Nam. Giá trị tốt của Phật giáo đã góp phần hun đúc nên những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao và tin tưởng vào vai trò, sức mạnh và hiệu quả đóng góp của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới ngày nay trên nền tảng tự do tín ngưỡng tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và bình đẳng tôn giáo”.[4]

 Đặc biệt nhất, sự thành công rực rỡ của đại lễ Vesak 2019 vừa qua tại Hà Nam, Phó Thủ Tướng Trương Hòa Bình đã nhấn mạnh: “Đại lễ Vesak đã trở thành ngày hội chan hòa tinh thần đoàn kết quốc tế, nêu cao thông điệp hòa bình, đoàn kết và yêu thương trên nền tảng tư tưởng của Đức Phật – bậc minh triết được Liên hợp quốc suy tôn và nhân loại ngưỡng mộ, là nơi gặp gỡ của phật tử và những người yêu Đạo Phật. Trong những ngày qua, những tinh hoa về tư tưởng, trí tuệ và lòng từ bi theo kinh phật Phật Giáo đã kết nối tình đoàn kết kắp nơi, hội tụ về Tam Chúc. “Các ý nguyện tốt đẹp về một thế giới hòa bình, về một xã hội phát triển bền vững đã được thảo luận, thống nhất, thể hiện qua tuyên bố chung Hà Nam Vesak năm 2019, khẳng định sự đóng góp thiết thực của Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung và việc thực hiện hóa các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Với những đóng góp đó, chúng ta hy vọng về một tương lai tươi sáng của nhân loại và những bất ổn của xã hội như chiến tranh, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khổ đau của nhân loại và khoảng cách giàu nghèo, biến đổi khí hậu… từng bước được đẩy lùi, tư tưởng của đại lễ Vesak LHQ sẽ tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, để thông điệp về hòa bình và yêu thương của Đức Phật luôn tỏa sáng.

Hòa thượng Brahmapundit - Chủ tịch thường trực ICDV khẳng định, ba ngày qua là khoảng thời gian tuyệt vời thể hiện lòng mến khách của GHPGVN và con người Việt Nam. Hòa thượng cho biết, Ban Tổ chức đã làm việc hết sức mình và tích cực và ra về với những cam kết mới, có thêm nhiều người bạn mới, cũng như nỗ lực thực hiện trong Tuyên bố Hà Nam. “Tôi vô cùng hoan hỷ thông báo chúng ta đã tổ chức thành công Đại lễ Vesak tại đất nước có bề dày lịch sử và tươi đẹp này. Tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Lãnh đạo Nhà nước Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hợp tác đăng Đại lễ vô cùng hoành tráng này”, Hòa thượng Brahmapundit phát biểu.[5]

  1. Tinh thần giáo dục Phật giáo ở một số nước trên thế giới

Hệ thống Giáo dục phụ thuộc vào hệ thống kiến ​​thức; và kiến ​​thức không thể hoạt động mà không có trí tuệ, do đó trí tuệ trở thành mục tiêu chính của hệ thống giáo dục. Trí tuệ luôn ươm mầm cho các hành động hay ý chí xây dựng hệ thống giá trị phù hợp để hướng dẫn hành động của chúng ta. Do đó hệ thống giáo dục phải ăn sâu vào hệ thống giá trị dựa trên trí tuệ. Phật giáo là một trong những trường phái tư tưởng quan trọng nhất, đã phân tích mọi thứ một cách logic và có hệ thống. Phật giáo luôn tập trung vào hệ thống giáo dục dựa trên trí tuệ và định hướng giá trị hoặc theo một hệ thống giáo dục dựa trên trí tuệ rộng rãi dẫn đến sự hiểu biết đúng đắn về bất cứ điều gì. Để biết thực tế hoặc sự thật thực tế, chúng ta phải có một tầm nhìn đúng hoặc hiểu đúng về nó và do đó chúng ta nên hành động theo nó. Đó là lý do tại sao Phật giáo luôn bắt đầu với tầm nhìn đúng (sammᾱ-diṭṭhi), điều này được giải thích rõ trong học thuyết Phật giáo về Bát chánh đạo hay Aṭṭhaṅgiko maggo.

Theo Phật giáo, chúng ta nên thanh lọc tâm trí của chính mình và cố gắng phát triển lòng nhân ái và từ bi đối với tất cả chúng sinh. Trong bài viết hiện tại này, tôi đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của hệ thống giáo dục Phật giáo và vai trò của nó trong Giáo dục. Tuy nhiên, có rất nhiều trường phái suy nghĩ nói về hệ thống giáo dục và tầm quan trọng của nó trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Phật giáo cũng là một trong số đó và nó có đóng góp to lớn cho hệ thống giáo dục. Ý tưởng của nó về giáo dục luôn luôn được định hướng giá trị. Vai trò của giáo dục Phật giáo ở đây là kiến ​​thức Phật giáo, trí tuệ (Prajῆa hoặc paῆῆa) và quá trình xây dựng lý luận hoặc khái niệm (manasikara) là ba trụ cột của hệ thống giáo dục, kiến ​​thức cũng có một chế độ hoạt động, giúp phát triển một hệ thống định giá bằng cách chuyển đổi sự hiểu biết hoặc lý luận của chúng ta thành hiểu biết đúng hoặc tầm nhìn đúng. Dưới ánh sáng của sự hiểu biết đúng đắn cũng liên quan đến các phẩm chất nội tại và các chế độ hành vi phổ quát về một đối tượng nằm dưới nguồn gốc, sức chịu đựng và thay đổi hoặc suy tàn của nó. Khi kiến ​​thức được áp dụng để khớp nối, nó thể hiện một cách chân thực những gì thực sự được cấu thành trong tâm trí của chúng ta, và vẫn xác nhận tiêu chí của sự hiểu biết đúng đắn.

Trí tuệ hay Prajῆa là phương thức hoạt động của kiến ​​thức. Nó biểu hiện trong sự mặc khải của thực tại giống như ánh sáng xuyên vào bóng tối và chiếu sáng đối tượng cho tầm nhìn hoặc mặc khải của nó. Do đó, chế độ hoạt động của kiến ​​thức một mặt thực hiện sức mạnh của sự chiếu sáng (obhᾱsana lakkhaṇa) để xem thực tế và bằng dấu hiệu đặc trưng khác (chedana lakkhaṇa), từ đó phục vụ tất cả các yếu tố làm ô uế của chúng ta để phân biệt tầm nhìn của chúng ta, đúng và sai.

Ý tưởng về giáo dục Phật giáo đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây so với thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa hiện đại Phật giáo vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Lúc này, người ta nhấn mạnh vào nhu cầu đồng thời cả việc bảo tồn văn bản truyền thống, kinh điển của các truyền thống và được giảng dạy bằng các phương pháp hiện đại, tiếp xúc với giáo trình hiện đại, các môn học được giảng dạy bằng tiếng Anh là cách quan trọng để cạnh tranh với hoạt động truyền giáo của Kitô giáo và đưa Phật giáo ra khắp các nước trên thế giới.

Giáo dục Phật giáo hiện đại nhằm mục đích tạo ra những người theo đạo Phật có khả năng hoạt động trong môi trường mới trong khi vẫn giữ lòng trung thành tôn giáo truyền thống của họ; Mục đích của nó là để sử dụng các hình thức thể chế hiện đại và các thiết bị sư phạm là “phương tiện thiện xảo” ( upaya) để đảm bảo sự tồn tại của Phật giáo trên thị trường tôn giáo toàn cầu, trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ đáng gờm (Kitô giáo thường được coi là đối thủ chính). Ở một số quốc gia, điển hình là ở Nhật Bản, các tổ chức học tập Phật giáo hiện đại đã chứng minh sự thành công về chất lượng và năng lực. Tuy nhiên, đồng thời, các hệ thống giáo dục Phật giáo hiện đại hóa ra dễ bị ảnh hưởng bởi các xu hướng hiện nay như chuyên nghiệp hóa và ngăn cách, với tôn giáo dần trở thành một phần nhỏ của một chương trình giảng dạy hay nghiên cứu phức tạp.

Ngày nay, việc học văn bản Phật giáo bằng ngôn ngữ truyền thống (tiếng Pali, tiếng Sankrit, tiếng Hán cổ, v.v.) được bảo tồn bên trong các trường đại học Phật giáo trong các truyền thống Phật giáo Theravada (Sri Lanka, Thái Lan, Miến Điện, Việt Nam, Nhật v.v.). Trong các xã hội này, Phật giáo Trưởng lão bộ cung cấp các căn cứ để xây dựng bản sắc dân tộc hiện đại và tính phù hợp với khoa học thực nghiệm ở các quốc gia phát triển. Sự duy trì giáo dục Phật giáo được hiểu là một nhiệm vụ của quốc gia, giáo dục Phật giáo có xu hướng bảo tồn tính cách bảo thủ hơn nhiều so với các nước có Truyền thống Phật giáo phát triển, ví dụ, ở Hàn Quốc hoặc Nhật Bản, nơi Phật giáo không đóng vai trò quyết định trong việc xác định bản sắc dân tộc và nơi các trường đại học Phật giáo tham gia vào thị trường giáo dục hiện đại. Ngược lại, trong trường hợp của các xã hội Phật giáo Nam truyền, ngay cả một cách tiếp cận để so sánh đối với Phật giáo dường như gần như là không được phép trong một hệ thống học tập được coi là địa vị của Phật giáo là cốt lõi của bản sắc dân tộc.

Ở khía cạnh này, việc tạo ra một chương trình tiến sĩ tiếng Anh, Tiến sĩ Quốc tế (khoa Phật giáo Quốc tế) về nghiên cứu Phật giáo tại học Viện PG VN tại TP HCM, một trong những trường đại học Phật giáo có uy tín của Việt Nam, là một sự kiện gần đây chưa có tiền lệ trong lịch sử giáo dục Phật giáo Việt Nam: Lần đầu tiên, một trường đại học Phật giáo đảm nhận đào tạo các nhà nghiên cứu Phật học thực thụ, những người sẽ coi Phật giáo là một đối tượng để nghiên cứu nhằm vào cả cộng đồng Phật giáo và phi Phật giáo, và không có nghĩa vụ đồng thời là những người tôn sùng Phật giáo. Tuy nhiên, trong các xã hội công nghiệp hóa và đô thị hóa cao của truyền thống Đại thừa như Hàn Quốc hay Nhật Bản, việc học văn bản theo ngôn ngữ truyền thống, sử dụng các phương pháp truyền thống (ghi nhớ các đoạn văn có liên quan, tranh chấp, v.v.), phần lớn chỉ giới hạn trong các nghiên cứu tại khoa Phật giáo của một số trường đại học Phật giáo.

Trong khi một số khoa nghiên cứu Phật giáo tại các trường đại học Nhật Bản được công nhận trên toàn thế giới về các giá trị học thuật của họ, tuy nhiên ảnh hưởng của họ đối với các nhà nghiên cứu và sinh viên của trường đại học, và các tầng lớp khác trong xã hội, là rất khiêm tốn. Đặc biệt là ở Nhật Bản, các cách tiếp cận tương đối và quan trọng hơn đối với giáo lý Phật giáo phát triển được chấp nhận nhiều hơn tại các trung tâm học tập của Phật giáo so với hầu hết các truyền thống Theravada. Tuy nhiên, Phật giáo chủ yếu chiếm một vị trí là nhà cung cấp một số dịch vụ nghi lễ chủ yếu là vui nhộn cho các nhu cầu xã hội, và do đó, hầu như không liên quan đến những nỗ lực của một số học giả Phật giáo để biến nó thành một công cụ phê bình và cải thiện xã hội. Ở Nhật Bản thời hậu chiến, Phật giáo phần lớn đã thất bại trong việc trở thành một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hiện đại mới, hậu độc đoán của Nhật Bản hoặc đưa ra bất kỳ tầm nhìn thay thế nào về tính hiện đại khác biệt về chất của xã hội tiêu dùng đại chúng. Nó tiếp tục hoạt động như một tôn giáo tang lễ của người Hồi giáo, làm việc chủ yếu trong các nghi lễ tang lễ và ngoài ra còn được sử dụng bởi các khách hàng của công ty, những người coi cuộc sống kỷ luật cao của các ngôi đền là nơi đào tạo tốt cho nhân viên của họ.[6]

Thật vậy, họ đã không phải chờ đợi rất lâu đối với các cộng tác viên đầy tham vọng, vì một số nhà sư cải cách đã thất vọng với tham nhũng của chính phủ quốc gia và, nói chung, xu hướng bóc lột và chống đối vốn có trong hệ thống xã hội theo định hướng thị trường. Ngay trong năm 1950, Juzan, một đệ tử nổi tiếng của Taixu, đã tổ chức một nhóm những người theo chủ nghĩa hiện đại Phật giáo cực đoan và gửi cho Mao Trạch Đông một tuyên bố nhấn mạnh bản chất Phật giáo không chủ trương tôn thờ bất cứ một vị thần nào của Phật giáo và sự tương thích hoàn toàn với chủ nghĩa cộng sản.[7] Trong quá trình tạo ra một vùng đất tịnh độ trần gian, một tầm nhìn xã hội chủ nghĩa về một xã hội mâu thuẫn và không giàu có, được diễn đạt bằng các thuật ngữ nghe theo tiếng Phật giáo, Phật tử phải khai sáng tu viện và theo dõi giáo phái của họ về tương lai chủ nghĩa xã hội và Phật giáo. Các nhà cải cách trung thành với nhà nước đã sớm được hợp nhất thành Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc mới thành lập (1953). Trong khi tạp chí, với tư cách là doanh nghiệp cốt lõi của hiệp hội, chắc chắn đóng vai trò giáo dục, không có cơ sở giáo dục Phật giáo chuyên ngành nào ngoài Học viện Phật giáo được giám sát chặt chẽ của Trung Quốc (Bắc Kinh, thành lập năm 1956), là mục đích tối thượng của Cộng sản Trung Quốc Đảng là một xã hội hoàn toàn thế tục.

Các nhà sư bị buộc phải làm việc như một công dân bình thường, và được một số người cực đoan khuyến khích mọc tóc, từ bỏ ăn chay và kết hôn: việc thế tục hóa thực sự bị ép buộc khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu vào năm 1966. Học viện Phật giáo Trung Quốc đã đóng cửa số phận trên thực tế được chia sẻ bởi phần lớn các trường đại học khác của Trung Quốc, những trường không thể hoạt động bình thường giữa những biến động chính trị. Sau hơn một thập kỷ, Phật giáo chỉ được khám phá lại vào cuối những năm 1970, như là một phần của các chính sách cải cách tự do hơn. Từ năm 1980, các sắc phong tu viện mới đã được cho phép, và các chi nhánh tỉnh của Học viện Phật giáo Trung Quốc cuối cùng đã được mở, điều mà tăng đoàn Trung Quốc mong muốn đạt được trong những năm 1950.

Thái Lan, nơi đã thoát khỏi chế độ thuộc địa, Đạo luật Tăng thân năm 1902 tập trung quản trị giáo hội và cũng thiết lập một hệ thống kiểm tra mới, phối hợp bằng tiếng Thái và tiếng Pali, với các văn bản thống nhất được sử dụng trong cả nước. Sự đồng nhất của các yêu cầu giáo dục mới là góp phần tạo ra một chủ nghĩa dân tộc văn hóa thống nhất có thể chịu được áp lực của thời đại chủ nghĩa đế quốc cao. Thái Lan cuối cùng cũng có một hệ thống giáo dục Phật giáo tư thục và học viện Phật giáo: một cách để vượt qua sự kháng cự của tu viện chống lại việc đưa các môn học hiện đại vào giáo trình, hoặc một số trường đặc biệt, trong một số tu viện, để cung cấp cho các nhà sư những kiến ​​thức chung cần thiết.

Ở Miến Điện, nơi được thuộc địa hóa toàn bộ và được đưa vào một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh vào năm 1886, nền giáo dục thế tục, hiện đại về tiếng địa phương và tiếng Anh được khen ngợi bởi các trường truyền giáo Kitô giáo và  Phật giáo (các học viện). Các nhà giáo dục Phật giáo muốn nuôi dạy một Phật tử coi cuộc sống là một quá trình sáng tạo công đức, thay vì một môn học hiện đại, kỷ luật, hợp lý kinh tế. Một sự thỏa hiệp giữa hai chiến lược giáo dục khác nhau là các trường học tiếng Anh của Phật giáo, ra đời vào cuối những năm 1890; Các trường công lập bắt đầu bao gồm một số hướng dẫn Phật giáo trong chương trình giảng dạy của họ. Tuy nhiên, giáo dục Miến Điện vẫn giữ được tính đa nguyên, với các học viện của Giáo hội cùng tồn tại với các trường công lập.[8]

Ở truyền thống Mông Cổ, khoảng một phần ba dân số sống trên các lãnh thổ được quản lý bởi các tu viện, và hệ thống phân cấp Phật giáo kết hợp các chức năng của chính quyền thế tục. Do kết quả của chiến dịch chống tôn giáo thực thi, đẩy nhanh quá trình thế tục xã hội hóa, chủ yếu diễn ra vào cuối những năm 1930, trùng hợp với các cuộc thanh trừng chống Chính thống ở Liên Xô, hầu như tất cả các nhà sư đều bị buộc tội, với số lượng lớn trong số họ trở thành nạn nhân của sự đàn áp của chính phủ. Tuy nhiên, không giống như Liên Xô, nơi các chính sách chống Chính thống Giáo đã bị đảo ngược một phần vào năm 1941 vì sự hỗ trợ của nhà thờ là cần thiết trong việc huy động thời chiến quốc gia, các chính sách của chính phủ Mông Cổ đối với Phật giáo cũng thể hiện sự linh hoạt. Rốt cuộc, tầm quan trọng liên tục của Phật giáo chỉ là quá hữu hình đối với nhà cầm quyền. Đến năm 1944, Gandantegchinlen, một hợp chất tu viện khổng lồ ở Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ, đã được mở cửa trở lại. Ở đóнд ө р гэгээн Занабазарын нэрэмжит Бурхан шашны Их сургууль ). Cho đến ngày nay, trường đại học này là cơ sở giáo dục Phật giáo duy nhất trong cả nước và là nơi đào tạo chính cho các Lạt ma tương lai (các linh mục Phật giáo). Phật giáo là một hiện tượng văn hóa quá quan trọng đối với bản sắc dân tộc của người Mông Cổ, cũng như vai trò ngoại giao của Mông Cổ ở Phật giáo châu Á, chỉ đơn giản là bị loại bỏ, ngay cả khi xã hội bị đẩy theo hướng hiện đại thông qua việc thế tục hóa bắt buộc.[9]

Trong khi một số vùng mà Phật giáo chiếm lĩnh vai trò tư tưởng so với một số tôn giáo khác, thì GDPG thể hiện vai trò của nó trong các xã hội Âu Mỹ, lúc này Phật giáo phương Tây đã phát triển các cấu trúc giáo dục của riêng mình kể từ những năm 1970, dường như không khác biệt so với các nước châu Á về sự cung cấp tư tưởng giải thoát ở cấp độ cá nhân khỏi các vấn đề xã hội do thị trường tiêu dùng tạo ra, thay vì giải pháp cho những vấn đề này. GDPG là quan trọng đối với công cụ tiềm năng thay đổi văn hóa và tư tưởng xã hội. Một số thanh niên thuộc thế hệ này bắt đầu coi Phật giáo như một cách thể hiện tình đoàn kết với các dân tộc không phải người phương Tây đang bị đô hộ khó khăn bởi sự hiện đại của tư bản phương Tây. Phật giáo, trước đây là một sự theo đuổi hiếm hoi của giới thượng lưu, bắt đầu phát triển thành một lực lượng phổ biến trong số những người Bắc Mỹ trẻ tuổi, có trình độ đại học vào khoảng cuối những năm 1950, và xu hướng này tiếp tục trong những năm 1960, 1970 và 1980. Nhu cầu mới này đã dẫn đến sự tăng trưởng về nguồn cung ở tất cả các cấp độ từ số lượng các trường đại học và cao đẳng cung cấp bằng cấp về Phật giáo cho một số trung tâm Phật giáo cung cấp các buổi thiền và đào tạo.

Vào cuối những năm 1960, Phật giáo Tây Tạng và Đông Nam Á bắt đầu cạnh tranh với các chi nhánh Đông Á của Trường Thiền phần lớn cho cùng một giáo dục công cộng, chủ yếu là người Mỹ trung lưu (trong phần lớn các trường hợp người da trắng) đã vỡ mộng với xã hội công nghiệp. Sự phổ biến của xu hướng Phật giáo đã giúp có thể thành lập các trường đại học Phật giáo đầu tiên ở Bắc Mỹ trong giai đoạn này. Một trong số đó, Đại học Naropa, được thành lập vào năm 1974. Các trường đại học Phật giáo tại Hoa Kỳ thường có tính cách giáo phái mạnh mẽ. Tuy nhiên, đối với một trường học có nguồn gốc Phật giáo không công khai và chính thức giáo phái

  1. Một số thực trạng hiện tại của học viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh

Học Viện[10] đã đào tạo được 13 khoá cử nhân Phật học (đến năm 2019), với hơn 10 nghìn Tăng Ni và Phật tử, đã được tốt nghiệp. Nỗ lực của Học Viện là nhằm xây dựng và phát huy truyền thống đạo đức và đào tạo các thế hệ Tăng Ni tài cho Phật giáo Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu Phật sự, giải quyết các vấn nạn của thời đại.

Trên tinh thần đó, các lớp gia giáo, trường Phật học là tiền thân của nền giáo dục Phật giáo Việt Nam lần lượt ra đời, trong đó phải kể tới các lớp, trường như: Trường Phật học dành cho Ni chúng chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), lớp Phật học chùa Long Phước (Vĩnh Long), lớp luật học chùa Kim Huê (Đồng Tháp),... Trong tác phẩm 50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Thích Thiện Hoa cho biết, chỉ trong vòng hai thập niên đầu của cuộc chấn hưng, riêng Nam Bộ, số lượng các trường gia giáo, trường Phật học được thành lập lên đến khoảng 10 ngôi[11], trong đó có một số ngôi chùa được xây dựng mới như: Chùa Giác Hoa ở Bạc Liêu, chùa Từ Lâm (Tây Ninh)....

Bên cạnh đó, các hội Phật giáo, Phật học đường cũng ra đời hàng loạt gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng. Chẳng hạn như Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học và tờ tạp chí Từ Bi Âm ra đời ở Nam Kỳ vào tháng giêng năm 1932. Rồi sau đó, tháng 6 năm 1933, tờ nguyệt san Việt Âm ra đời ở Huế làm cơ quan nghiên cứu của Hội Phật học Trung Kỳ. Tháng 11 năm 1934 Hội Phật học Bắc kỳ được thành lập do Tổng đốc Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Năng Quốc đứng đầu. Năm 1935, Đuốc Tuệ ra đời làm cơ quan tuyên truyền cho Hội ấy[12]. [Trần Văn Giàu, 1993]. Ngoài ra, còn một số Hội và một số tờ báo nổi tiếng khác như: Hội Phật học Lưỡng Xuyên với tờ báo Duy Tâm, Hội Liên hữu Thiên Thai Thiền giáo tông với nguyệt san Bát Nhã Âm, Hội Phật học Nam Việt với tập san Từ Quang. Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, do Cụ Đoàn Trung Còn làm hội trưởng, chủ trương phiên dịch kinh điển, viết các đầu sách cung cấp kiến thức Phật học cho Tăng Ni, tín đồ Phật tử thời bấy giờ như: Tam thiên tự (3 cuốn: 1 cuốn in theo xưa Hán Việt, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Hán Việt Pháp, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Pháp Hán Việt); Ngũ thiên tự: 2 quyển: 1 quyển theo xưa, 1 quyển theo lối tự điển Hán, Việt, Pháp; Đạo lý nhà Phật, Chuyện Phật đời xưa, Văn minh nhà Phật, Triết lý nhà Phật, Lịch sử nhà Phật, Pháp giáo nhà Phật, Tăng đồ nhà Phật (1934), Các tông phái đạo Phật,... Phật học đường Phật Quang được khai giảng trở lại từ 1946 tại quận Trà Ôn tỉnh Trà Vinh do thiền sư Thiện Hoa chủ trì, Phật học đường Nam Việt, Phật Học đường Lưỡng Xuyên, Phật học đường Tây Phương do Hòa Thượng Thích Thiện Phước chủ trương thành lập, nhằm giáo hóa đồ chúng chuyên tu tịnh độ.

Và quan trọng nhất, hàng cư sĩ lỗi lạc tri thức, đã từng có vai trò quan trọng, có cống hiến hàng đầu đối với Giáo dục Phật giáo Việt Nam trong quá khứ đều là Phật tử, đã thọ trì Tam quy, Ngũ giới kính tin Tam bảo, làm Phật sự không biết mệt mỏi, kính trọng Tăng bảo,  và tôn làm Thầy, như cụ Mai Thọ Truyền quy y với Hòa thượng Thích Hành Trụ, được đặt pháp danh là Chánh Trí.  Bác sĩ Lê Đình Thám đã thành kính xin quy y với Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng ban cho pháp danh là Tâm Minh. Cụ Đoàn Trung Còn, Pháp danh Hồng Tại, là huynh đệ với các Ngài Hồng Tín, Ngài Hồng Ảnh, cống hiến nhiệt thành qua nhiều tác phẩm nghiên cứu kinh điển như: Tứ thư ngũ kinh; Từ điển Phật học Việt Pháp Hán Phạn; Đạo lý, văn minh, triết học, lịch sử, pháp giáo, Tăng Đồ nhà Phật;…[13]

Học tập chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc giáo lý tổng thể của Phật giáo. Học và nghiên cứu sâu văn bản (Pali: pariyatti ) được hiểu là một điều kiện cần thiết để duy trì Phật giáo và tín ngưỡng Phật giáo. Trong truyền thống của Phật giáo Ấn Độ sau khi triều đại của Hoàng đế Asoka (269-232 TCN), các học viện, tu viện lớn, hoặc các tịnh xá, là nơi được công nhận của việc nghiên cứu học tập. Học tập trong Phật giáo hậu Asoka không nhất thiết chỉ giới hạn trong nghiên cứu văn học kinh điển. Nalanda, trường đại học tu viện nổi tiếng ở Bihar ngày nay, ước tính có sức chứa 3.000 đến 5000.000 sinh viên, trong đó số lượng cũng bao gồm những người hành hương từ những nơi xa xôi như Trung Quốc hay vương quốc Silla của Hàn Quốc[14]. Nalanda, tồn tại giữa thế kỷ thứ năm và mười ba, được coi là đại diện của truyền thống giáo dục trong Phật giáo Ấn Độ. Một trường đại học đã được chính thức khôi phục hoạt động vào ngày 1 tháng 9 năm 2014, trong vùng lân cận của di tích lịch sử, được tài trợ bởi chính phủ Ấn Độ và một số nhà tài trợ quốc tế.[15]

Như các trường đại học Phật giáo lớn khác, mục đích của Học Viện tại TP HCM là nhằm để đào tạo những Tăng Ni sinh có kiến thức Đại học về Giáo lý căn bản của các bộ phái Phật giáo, Lịch sử Phật giáo Việt nam, các vấn đề về Phật giáo nhập thế và văn hoá (Phật giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Phật học có thể tiếp tục học cấp Cao học, Tiến Sĩ, trở thành nghiên cứu viên của Viện nghiên Cứu Phật học, hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Phật sự tại Trung ương giáo hội, Ban Trị sự tại các tỉnh, Thành toàn quốc.

Tuy nhiên, học viện chúng ta cần cải tiến toàn diện một số việc như: Cán bộ cần có thái độ nhiệt tình hơn đối với Tăng, Ni sinh. Các phòng, khoa cần giải đáp thắc mắc của Tăng, Ni sinh rõ ràng, cụ thể. Nhiều Tăng, Ni sinh phàn nàn về thái độ của nhân viên phòng sau đại học còn chưa tốt. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, quan trọng là cho các tăng ni thực tập giảng dạy các lớp Sơ, Trung, Cao Đẳng năm cuối trước khi ra trường và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp Tăng Ni sau khi ra trường, được giảng dạy cống hiến về công tác giáo dục trong hệ thống sơ, trung, cao đẳng tại các địa phương và Tỉnh Thành. Cần thay đổi mạnh mẽ theo cách giáo dục tín chỉ hiện nay, thay đổi giảng viên theo hệ thống đánh giá về chất lượng giảng viên (cung cấp hệ thống đánh giá toàn diện trực tiếp trên web của nhà trường hay nhà trường khuyến khích tinh thần tự học cả ban ngày và đêm tại các khu tự học thuận tiện, yên tĩnh hơn so với ký túc xá. Hình thức đánh giá điểm rèn luyện online còn nhiều hạn chế, thiết thì phải làm đơn xin bổ sung điểm, rất mất thời gian và công sức. Về việc đăng ký môn học thì có lẽ nên phân luồng theo khoa hoặc theo khoá để tránh trường hợp máy chủ nhà trường bị chậm do quá tải.[16]

Nên có website các bài tập hay các môn chuyên ngành cho Tăng, Ni sinh download và tìm hiểu dễ dàng hơn trong việc học các môn khó.

4. Một số kiến nghị thay lời kết

4.1. Từ một số nhận định trên, chúng ta có thể thấy rằng: Hơn 35 năm qua từ khi GHPG Việt nam có mặt, ngoài sự đóng góp công sức và trí tuệ cho quê hương đất nước, Học Viện còn phải từng bước khắc phục khó khăn từ các yếu tố khách quan bên ngoài đến các vấn đề nội tại hiện nay. Cho đến nay có thể nói tất cả đều đã tương đối ổn định. Nói như thế, không có nghĩa là mọi sự khó khăn trở ngại trước mắt không còn, tuy nhiên chúng ta phải luôn sáng suốt và nhất là không được chủ quan.

Mỗi khi đề cập về vấn đề giáo dục Phật Giáo, người ta thường nghĩ đến ý nghĩa đào tạo, giáo dục không những có trách nhiệm đào tạo kiến thức Phật học và thế học để bổ sung kỹ năng hoằng pháp mà chức năng chính là đào tạo tác phong tư cách, rèn luyện ý chí kiên cường; tư tưởng thanh cao, xứng đáng là bậc Sa môn phạm hạnh, mô phạm trong chốn Thiền môn. Không những thế, người tu sĩ Phật giáo còn phải luôn tinh tiến phấn đấu, khẳng định lập trường vượt qua tất cả tài sắc danh lợi, kiện toàn bản lĩnh xứng đáng là người đệ tử xuất gia của đức Phật.              

 Với những ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công việc đào tạo Tăng ni như chúng tôi đã trình bày trên. Nhìn về quá khứ và hiện tại vấn đề giáo dục Phật Giáo đã được phát huy cách tốt nhất, có phương pháp nghiên cứu hiện đại có thể nói khả quan.

Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng, đó là các vị Giáo thọ, Giảng viên tham gia cống hiến, giảng dạy các cấp Phật học, cần phải thường xuyên tham gia và cập nhật liên tục các Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm phù hợp với các chương trình giáo dục hiện đại. Lý do là vì kiến thức Phật học cũng như nghiệp vụ sư phạm của các vị Giáo thọ và Giảng viên, có thể nói chênh lệch khá lớn. Chúng ta đang ở cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cách giáo dục chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại, lấy người học làm trung tâm, cách giảng dạy cũng phải tiếp cận theo hướng mới, khơi dậy sự đam mê, tìm tòi, tự nghiên cứu ở người học, hay chương trình khung theo từng học viện phải giống nhau ở lẫn Việt Nam và Quốc tế để trao đổi du học sinh phù hợp chuẩn quốc tế. Khung chương trình mỗi cơ sở đào tạo phù hợp với khung chương trình đào tạo của mỗi quốc gia quy định để thống nhất theo từng quy định giáo dục hiện hành. Quý thầy cô dạy cùng một môn nên thống nhất kiến thức thi cuối kì, để tránh tình trạng mỗi thầy cô có cách dạy khác nhau, các dạng bài tập cũng khác nhau, dẫn đến việc vào kì thi cuối kì Tăng, Ni sinh bỡ ngỡ, gặp khó khăn rất nhiều. Một số môn học dạy lý thuyết nhiều, bài thực hành ít. Và việc giảng dạy nên chủ động trong việc trình chiếu Slide, không phụ thuộc hay không có chuẩn bị.

Quan trọng nhất hiện nay, nhà nước có nhiều chủ trương phát huy tối đa nguồn lực xã hội hóa giáo dục, y tế, là cơ hội để Các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng phát huy vị thế tham gia góp phần xã hội hóa giáo dục, như hiện nay chúng ta đã liên kết đào tạo và cấp bằng chính quy cho một số nhanh học như: Sư phạm mầm non, sắp tới là nhanh Anh Văn, Tin học. Được biết, vừa qua TT Thích Nhật Từ, đại diện hội đồng khoa học Học viện đã thăm và làm việc với Ban giám hiệu Trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn tiến tới việc hợp tác đào tạo toàn diện các nhanh học như: Tâm Lý học, Xã hội học, Tôn Giáo học, Nhân Học, Công Tác xã hội…

Ở đây chúng tôi chỉ đề cập riêng biệt về kiến thức và kỹ năng giảng dạy, tuyệt đối không đề cập đến tư cách Hành giả tu tập hay đạo đức cá nhân. Một khi giáo dục đã thật sự vào nề nếp ổn định, bấy giờ mới có thể triển khai các lớp đào tạo chuyên ngành, tương đương như hệ thống các trường thuộc Đại học Quốc gia thuộc từng chuyên ngành, do Học viện Phật học đảm nhiệm đào tạo ngoài một số khoa chuyên sâu nội điển như: Triết học, giảng sư, Thiền sư (kinh tạng), Luật sư, Luận sư, Sinh ngữ Anh (hoặc tiếng Hoa, chuyên nhanh cổ ngữ Pali, Sankrit) và còn có các ngành học phù hợp xu hướng thời đại như: Tôn giáo học, Triết học, Ngữ văn, Nhân học, Tâm lý học, Công tác xã hội. Đặc biệt khi khung chương trình hai năm đại cương phù hợp với hệ thống giáo dục quốc dân, sinh viên sẽ được tiếp nhận đào tạo và cấp văn bằng của các Trường Đại Học Chính quy bên ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể cho Tăng Ni sinh trẻ hiện nay, hầu có đủ nhân sự để đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của Giáo hội hiện tại và tương lai.

Chúng tôi đề xuất ý kiến như vậy, bởi vì Học Viện đã bước qua 2 giai đoạn hình thành và củng cố, giờ đây là giai đoạn phát triển bền vững toàn diện. Hơn thế nữa, đất nước Việt nam và Phật giáo Việt nam nói chung và Học Viện nói riêng đã và đang trên đà phát triển mọi mặt, khẳng định vị trí không những trong nước khu vực mà còn ảnh hưởng sâu rộng khắp các nước trên thế giới. Có thể nói đây là thời điểm thuận lợi nhất để Học viện PGVN tại TP HCM  phát huy tiềm năng sẵn có của mình, hầu đóng góp thiết thực nhất cho quê hương xứ sở.

4.2. Nếu như đề cập đến vấn đề Giáo dục học viện mà không nói đến sự nghiệp phát triển Hoằng pháp thì thật là điều thiếu sót. Điều này trong chốn Thiền môn xưa nay ai cũng biết, nếu muốn truyền bá chánh pháp cho tất cả mọi người, nhất là những vùng sâu vùng xa, người làm công tác Hoằng pháp, ngoài sự kiên định lập trường và hạnh nguyện cao cả, còn có cả một sự hy sinh vô cùng to lớn, nếu không được như Đức Phật thì tối thiểu cũng tương đương như các vị Tiên sư, Cổ đức. Chẳng hạn để nói lên sự hy sinh cao cả của Đức Phật Thích Ca, người xưa đã nói: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du. Kỳ vị sanh tử sự, giáo hóa độ xuân thu”. (Một bát cơm ngàn nhà, thân đi muôn dặm xa, chỉ vì việc sanh tử, giáo hóa tháng ngày qua). Đức Phật vượt bao khó khăn, trở ngại để truyền bá chánh pháp trong một đất nước ảnh hưởng nặng nề bởi các tôn giáo đa thần hay nhất thần, nặng mùi tín điều và lễ bái. Ngài Phú Lâu Na hoằng pháp nơi ngoại đạo dù ảnh hưởng đến sự an toàn Ngài không ngần ngại, Ngài Khương Tăng Hội bị nhà Ngô thách đố sự linh ứng, mầu nhiệm Phật pháp mới cho truyền đạo, Ngài Đạt Lai Lạt Ma 14 mặc dù không ở trên quê hương xứ sở của mình, nhưng tầm ảnh hưởng của Ngài đối với Quốc tế là rất lớn, hay chính đất nước Việt Nam cũng có Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, Thiền sư là người đưa ra khái niệm "Phật giáo dấn thân" (engaged Buddhism). Với những hoạt động không ngừng nghỉ của mình, thiền sư Thích Nhất Hạnh trở thành nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây, chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma[17], thật muôn vàn công hạnh mà hiện nay nếu mỗi học giả, hành giả chúng ta nỗ lực nhiệt thành cũng là gương sáng cho hậu thế muôn đời sau học hỏi và làm cho Phật giáo ngày càng phát triển bền vững đem lại hòa bình, hạnh phúc cho muôn loại chúng sanh.

4.3. Bắt đầu từ khóa VIII nhiệm kỳ này, tất cả các Trường trung cấp Phật học đều phải áp dụng chương trình giảng dạy đúng như Ban Giáo Dục Phật Giáo Trung ương đề xuất. Muốn thực hiện điều này có kết quả, đề nghị các Ban Giáo Dục Phật Giáo Tỉnh thành không những báo cáo theo ngành ngang cho Ban Trị Sự Tỉnh thành trước Hội nghị tổng kết 6 tháng cuối năm mà còn phải báo cáo đầy đủ về Ban Giáo Dục Phật Giáo Trung ương theo ngành dọc. Có như thế Ban Giáo Dục Trung ương mới có cơ sở để đề xuất những ý kiến trong mỗi kỳ Đại Hội Phật Giáo toàn quốc, làm cho chương trình Giáo dục ngày càng được hoàn chỉnh hơn.

Khi soạn thảo xong chương trình giảng dạy cấp Đại Học, sau đại học Phật học, đối với các Học viện, nếu không có gì trở ngại, Ban Giáo Dục Phật Giáo Trung ương có thể thành lập một Ban Kiểm tra thẩm định chương trình giảng dạy tại các Học viện. Điều cần phải lưu ý: Ngoài các vị Chủ giảng ra, những người làm công tác Phụ giảng cũng cần phải hội đủ bằng cấp Học vị tương đương, phù hợp chuyên môn của từng chuyên ngành riêng biệt, hạn chế tối đa trong việc kiêm nhiệm nhiều chức vụ để mỗi giảng viên có thời gian nghiên cứu chuyên sâu, cần thiết mỗi năm quy định chính giảng viên cũng phải trực tiếp tham gia đề tài cấp trường, hoặc cùng tham gia đề tài, quy định tham gia hội thảo, viết bài nghiên cứu khoa học....

           

TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1.  

Nguyễn Lang, 1994, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,

Mookerji, Radha Kumud. 1998. Giáo dục Ấn Độ cổ đại: Bà la môn giáo và Phật giáo . Delhi: Ấn phẩm Banarsidass Motilal. Trang: 396 – 468

Morozova, Irina. 2009. Các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở châu Á: Lịch sử xã hội của Mông Cổ trong thế kỷ 20 . London: Routledge.

Turner, Alicia. 2014. Cứu Phật giáo: Sự vô thường của tôn giáo ở Miến Điện thuộc địa . Honolulu: Nhà in Đại học Hawaii.

            Victoria, Brian. 2007, Karma Karma, Chiến tranh và Bất bình đẳng ở Nhật Bản thế kỷ XX. Tập trung vào Nhật Bản . http: //www.japanf Focus.org/-Brian-Victoria/2421 . Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019.

Wales, Holmes. Năm 1972. Phật giáo dưới thời Mao . Cambridge, MA: Nhà xuất bản Đại học Harvard.

Vladimir Tikhonov, 2017, Giáo dục và Phật giáo đương đại, Cẩm nang Oxford của Phật giáo đương đại.

      1.  

[1]Truyền bá Đạo Phật từ Ấn Độ cùng trong tư trào truyền bá văn minh Ấn ra các nước chung quanh. Trong thập hùng ca Ramayana của Ấn Độ có nói đến tên các xứ như Sumatra, xứ của vàng (Suvanna Bhumi), Java ...Theo các tư liệu của W. Cohn trong Buddhha in der Kunst des Ostens, Leipzig 1925; F.M. Schnitger trong The Archaellogy of Hindoo Sumatra, Leyde 1937 và G. Ferrand trong tạp chí Journal Asiatique Juillet - Aout 1919 ... Người ta đã tìm thấy các dòng chữ Sanskrit của Mulavarman tại các vùng Kutei ở Borneo và các bia đá khắc chữ Sanskrit của Purnavarman ở Tây Java. Các tượng Phật thuộc trường phái Amaravati được tìm thấy ở Sampaga (Célèbes) phía nam tỉnh Giember (Đông Java) trên đồi Se Guntang ở Pelembang (Sumatra) là xưa nhất có thể là trước công nguyên. Do đó người ta đã kết luận rằng những bước đầu văn minh và tôn giáo từ Ấn Độ đã truyền qua Indonesia phải xảy ra trước công nguyên. Do đó hệ luận đương nhiên là nền văn minh và tôn giáo từ Ấn Độ xuôi buồm đến Giáo Châu cũng cùng thời điểm và cùng đi theo đường biển lên phương Bắc.

Theo V. Rougier trong sách Nouvelles Découvertes Chames au Quang Nam, Befeo XI, đã viết rằng các nhà khảo cổ đã tìm thấy tượng Phật Đông Dương một trong những tác phẩm điêu khắc đẹp nhất thuộc trường phái Amaravati Ấn Độ. Điều nầy cho thấy chính người Ấn Độ đã truyền đạo Phật thẳng vào Việt Nam chứ không phải từ Trung Hoa truyền vào.

Đồng thời những người Ấn phát xuất từ Trung Ấn còn dùng tuyến đường bộ quang qua đèo Hasse Des Trois Pagodes, theo sông Kanburi xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và đến Luy Lâu của Giao Châu. Trên tuyến đường nầy các nhà khảo cổ cũng đã tìm được các cổ vật của nền văn minh Ấn Độ và di tích Phật Giáo.

[2] Nguyễn Lang, 1994, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển I.

[3]  Luy Lâu Tiếng Việt gọi là Dâu, tiếng Hán phiên âm ra Luy Lâu còn gọi là Liên Lâu, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Bắc Việt. Ngày xưa Việt Nam có 3 thị trấn cổ là Luy Lâu, Long Biên và Cổ Loa. Riêng Luy Lâu nằm trên bờ sông Dâu cách sông Đuống 5 cây số về phía Bắc. Dân Luy Lâu có nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa rất nổi tiếng. Về địa thế, có nhiều đường thủy bộ chạy ngang qua Luy Lâu khiến nơi đây thành một trung tâm giao dịch rất quan trọng. Có những đường bộ như con đường đi Phả Lại, Đông Triều đến biên giới Việt Trung (nay là đường số 18). Đường thủy từ Dâu nối sông Đuống, sông Hồng ra biển, hoặc nối với sông Lục Đầu, sông Thái Bình rồi ra biển.

Vì địa thế thuận lợi cho việc giao thông như thế nên Dâu là trung tâm thương mại rất sầm uất đương thời. Các thương gia Ấn Độ và Trung Quốc đều đổ về đây để mua bán các nông sản, lâm sản, vải vóc và các hàng công kỹ nghệ khác rất thạnh hành. Họ mua hàng tại đây để đem về nước hoặc trên đường buôn bán tiếp tục qua các nước khác trong vùng.

Luy Lâu còn là trung tâm chính trị, là thủ phủ của Giao Châu qua nhiều thời đại của chính quyền đô hộ từ phương Bắc. Thủ phủ nầy có thể được xây dựng từ thời Triệu Đà, 179 năm trước công nguyên. Sau khi nhà Hán chiếm được Nam Việt của Triệu Đà, họ vẫn giữ nguyên Luy Lâu làm trị sở của Giao Chỉ. Trong sách biên niên của nhà Hán ghi 10 huyện của quận Giao Chỉ trong đó Luy Lâu là đứng đầu.

 

[4] https://anninhthudo.vn/chinh-tri-xa-hoi/toan-canh-dai-hoi-dai-bieu-phat-giao-toan-quoc-lan-thu-viii/748989.antd

[5] https://baoquocte.vn/dai-le-vesak-2019-thanh-cong-ruc-ro-94136.html, Truy Cập Ngày 24/8/2019

[6] Victoria, Brian. Năm 2007, Karma Karma, Chiến tranh và Bất bình đẳng ở Nhật Bản thế kỷ XX. Tập trung vào Nhật Bản . http: //www.japanf Focus.org/-Brian-Victoria/2421 . Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019.

[7] Wales, Holmes. Năm 1972. Phật giáo dưới thời Mao . Cambridge, MA: Nhà xuất bản Đại học Harvard.

[8] Turner, Alicia. 2014. Cứu Phật giáo: Sự vô thường của tôn giáo ở Miến Điện thuộc địa . Honolulu: Nhà in Đại học Hawaii.

[9] Morozova, Irina. 2009. Các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở châu Á: Lịch sử xã hội của Mông Cổ trong thế kỷ 20 . London: Routledge.

[10] Được thành lập từ ngày 25 tháng 02 năm 1982 theo nghị quyết phiên họp thứ nhất của Ban thường trực Hội đồng trị sự Trung Ương và theo quyết định 0160/ QĐ ngày 17 tháng 03 năm 1983 của Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh.

[11] Thích Thiện Hoa (không ghi năm xuất bản): 50 năm chấn hưng Phật giáo – Viện Hóa Đạo, tr.32.

[12] Trần Văn Giàu 1993: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 2. – NXB TP. Hồ Chí Minh, tr.228.

[13] Pháp giáo nhà Phật; Tăng đồ nhà Phật (1934); Các tông phái đạo Phật; Diệu pháp liên hoa kinh (1936).(In lần thứ ba 1969); Một trăm bài kinh Phật; Na Tiên Tỳ kheo kinh; Mấy thầy tu huyền bí; Tam bảo văn chương Pháp Bảo đàn kinh, cùng dịch với Huyền Mặc Đạo Nhơn (1947); Vô Lượng Thọ kinh. Hán Việt; Quán Vô Lượng Thọ kinh. Hán Việt (1947) Địa Tạng kinh. Hán Việt; Di Lặc kinh. Hán Việt. (in lần thứ hai, 1949) Bồ Tát Giới kinh. Hán Việt (1953) Qui nguyên trực chỉ; Phật Học từ điển. Việt, Hán, Pháp, Phạn (1963); Yếng sáng Á châu Kim cang kinh. Hán Việt; Chư Kinh tập yếu (A Di Đà Kinh, Phổ môn, Tứ thập nhị chương kinh, Phật Di giáo kinh, Vô lượng nghĩa Kinh). Hán Việt; Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh Hán Việt (1971); Đại Bát Niết Bàn Kinh Hán Việt.

Những sách Khổng giáo, Hán văn do ông Đoàn Trung Còn soạn dịch xuất bản trong Trí Đức Tòng Thơ gồm có:

1. Truyện đức Khổng tử; 2. Nhị thập tứ hiếu (Hán Việt); 3. Hiếu Kinh (Hán Việt); 4. Tam tự Kinh (Hán Việt); 5. Tứ thơ: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử (Hán Việt); 6. Tam thiên tự (3 cuốn: 1 cuốn in theo xưa Hán Việt, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Hán Việt Pháp, 1 cuốn in theo Tiểu tự điển Pháp Hán Việt);7. Minh Đạo Gia Huấn (Hán Việt); 8. Ngũ thiên tự: 2 quyển: 1 quyển theo xưa, 1 quyển theo lối tự điển Hán, Việt, Pháp; 9. Học Chữ Hán một mình. Nhờ những Kinh điển ông soạn dịch từ năm 1931, giúp cho nhiều người hiểu được giáo lý đức Phật, ông góp công không nhỏ trong sự nghiệp canh tân Phật giáo Việt Nam từ thập niên 30 trở về sau nầy. Thiền tông hay Tịnh Độ tông cũng đều là tông phái lớn, lâu đời của Phật giáo Bắc Tông. Cho nên sự nghiệp truyền bá Phật Pháp, xiển dương Tịnh Độ, ông đáng được tôn vinh một Phật tử chân chánh, một Tỳ kheo giới đức.

 

[14] Mookerji, Radha Kumud. 1998. Giáo dục Ấn Độ cổ đại: Bà la môn giáo và Phật giáo . Delhi: Ấn phẩm Banarsidass Motilal. Trang: 396 - 468

 

[16] Học viên Thích nữ Hạnh Hiếu, Tiểu luận học phần cao học khóa 2.

[17] AP đánh giá trong một bài viết năm 2009

 

BÀI VIẾT MỚI

  • Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn thăm và sách tấn Tăng Ni Liên Tông Tịnh độ Non Bồng an cư tại chùa Long Phước Thọ.
  • Hòa Thượng Thích Huệ Thông Quang Lăm Thăm Và Sách Tấn Hành Giả An Cư Tại Trường Hạ Chùa Long Phước Thọ.
  • Diễn Văn Phật Đản Pl.2570 - Dl.2026
  • Thông Điệp Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2570
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026

Danh sách tin tức

  • Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn thăm và sách tấn Tăng Ni Liên Tông Tịnh độ Non Bồng an cư tại chùa Long Phước Thọ.
  • Hòa Thượng Thích Huệ Thông Quang Lăm Thăm Và Sách Tấn Hành Giả An Cư Tại Trường Hạ Chùa Long Phước Thọ.
  • Diễn Văn Phật Đản Pl.2570 - Dl.2026
  • Thông Điệp Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2570
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026
  • Chương Trình Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thượng Giác Hạ Quang
  • Lễ Họp Mặt Truyền Thống Đầu Năm Tông Phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • Ban Thường Trực BTS GHPGVN Tỉnh Đồng Nai thăm và Khánh Tuế Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Thảo
  • Lễ Huý Kỵ Lần Thứ 49 Đức Sư Ông Thượng Bửu Hạ Đức
  • Long Sơn Cổ Tự: Trang Nghiêm Lễ Tưởng Niệm Húy Kỵ Lần Thứ 30 Cố Hòa Thượng Thích Huệ Tâm
    HT Thượng Bửu hạ Đức, HT Thượng Thiện hạ Phước
    NT Thích nữ Thượng Huệ hạ Giác, HT Thích Giác Quang
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn Sư (32)
    Cái Đẹp Của Người Tu

CHƯ TÔN ĐỨC NON BỒNG

  • Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức
    Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức

    Hành trạng của Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức chứng minh đạo sư Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (1880-1974)  

    Chi tiết
  • Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước
    Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước

    Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng THIỆN hạ PHƯỚC húy NHỰT Ý, dòng LÂM TẾ thứ 41, Sáng lập và là Tông chủ môn phong pháp phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước
    Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước

    Chi tiết
  • Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành
    Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành

    Chi tiết
  • Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng
    Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng

    Chi tiết
  • Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng
    Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
    Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa
    Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa

    Tiểu sử Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Hòa húy Trung Viên trụ trì Tổ Đình Linh Sơn

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác
    Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác

    Chi tiết
  • Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.
    Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

CÁC NGÔI TỰ VIỆN NON BỒNG

  • Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh
    Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh

    Tổ Đình Linh Sơn nằm bên sườn Tây núi Dinh, ngọn núi này nằm trong dải Bao Quan. Trên bản đồ địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đỉnh Bao Quan chỉ cách Thị Xã Bà Rịa khoảng 10 km đường chim bay và nằm về phía Tây Nam của Thị xã.

    Chi tiết
  • Tổ Đình Quan Âm Tu Viện
    Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

    Quan Âm tu viện tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tu viện được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn Hóa tôn giáo công nhận là di sản văn hóa Phật giáo tỉnh Đồng Nai ngày 15/3/2016, được Ban Tôn giáo Chính phủ ra quyết định tặng Giấy khen “Có thành tích trong công tác từ thiện xã hội và góp phần bảo vệ văn hóa tôn giáo” ký ngày 02/12/2016.

    Chi tiết
  • Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.
    Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.

    Chi tiết
  • DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2570 - DL 2026

CÁC WEBSITE PHẬT GIÁO

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  2. Báo Giác Ngộ 
  3. Ban Tôn Giáo Chính Phủ
  4. Đặc san Hoa Đàm
  5. Phật Giáo Tp. Biên Hoa
  6. Phật sự online
  7. Đạo Phật Ngày Nay
  8. Phật Giáo Đồng Nai

    Không có video thuộc chủ đề này.
Mừng Xuân Di Lặc 2019
Banner header
Kỷ Niệm Lễ Xuất Gia Đức Thầy (2019)
Phát quà Tại Tổ Đình Thành An Tự
Phát quà từ thiện
Phát quà cho đồng bào ở Tây Bắc
Trồng cây
Phát quà từ thiện

Footer

QUAN ÂM TU VIỆN
2567 Nguyễn Ái Quốc, phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0933045996 - 0908192876
E-mail: lientongtinhdo@gmail.com
Copyright ©