Trưởng lão HT. Thích Giác Quang quang lâm chứng minh ban pháp thoại sách tấn đến hàng môn hạ đệ tử Tổ đình Linh Sơn
Hôm nay ngày 15/6 năm Nhâm Dần, kỷ niệm ngày Đức Phật chuyển Pháp luân, chư tôn đức Tổ đình Linh Sơn, Bà Rịa Vũng Tàu, Tông môn Tịnh độ Non Bồng cung thỉnh Trưởng lão HT. Thích Giác Quang – Uỷ viên HĐTS, Phó Ban Trị sự, Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai, Trưởng Tông phong quang lâm chứng minh ban pháp thoại sách tấn đến hàng môn hạ đệ tử tại chốn Tổ.
Trong pháp thoại, Trưởng lão giảng về hành trạng chư Tiền Bối lịch đại Tổ sư khai sáng môn phái, tông chỉ và phương thức hành đạo trong thời đại mới.
Trong hành trạng, Trưởng lão Hoà thượng nhắc về các mốc lịch sử quan trọng khi khai sáng môn phái:
- 1958: HT Thiện Phước Sáng lập Đạo Phật Non Bồng (giáo chúng kinh kệ qua thơ kệ, thơ lục bát, kệ tứ cú, thơ biền ngẫu… để đại chúng giai đoạn này dễ tu dễ hành trì)
- 19/1/1959: Sáng lập Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng tại Tổ Đình Linh Sơn, lúc này đã trải qua 11 đời trụ trì, chủ yếu dạy tu học và giáo chúng, sở dĩ lấy tên là Non Bồng nhằm ứng đối lại với tông Thiên Thai của Tổ sư Huệ Đăng, dạy chúng niệm Phật và tham thiền.
Do ảnh hưởng tu tưởng của quý HT Liên Phương, Thầy Nhất Phương, Thầy Phước Điện) thành lập Phật Học Đường Tây Phương và trường Trung Tiểu học Lâm Tỳ Ni. Lúc này có khoảng 300 học sinh theo học.
Tông chỉ niệm Phật Tịnh Độ Non Bồng hay Pháp Giáo của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, gọi tắt Tịnh Độ Non Bồng. Tịnh Độ Non Bồng là pháp môn tu dành cho các liên hữu thực tập, có ít nhất là 52 môn. Pháp môn được Đức Sư Ông Thượng Bửu hạ Đức hoằng truyền tại miền Tây Nam phần Việt Nam, tiếp đến Tôn Sư Thiện Phước-Nhựt Ý, tiếp đến Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác là bậc tam sư khai sơn môn phong. Niệm Phật Tịnh Độ là pháp môn xưng niệm hồng danh Phật A Di Đà, cầu sanh về thế giới Cực Lạc, nơi Đức Phật A Di Đà làm Giáo Chủ và đang thuyết pháp. Tịnh Độ Non Bồng được khai sơn để cùng với các môn phong pháp phái Tịnh Độ của các bậc Tôn Túc Trưởng Lão từ thế kỷ thứ III tại Giao Châu, đến thế kỷ thứ XI triều đại nhà Lý, Trần nước Đại Việt, và thế kỷ XXI hiện nay tại Việt Nam.
Chúng tôi môn đệ của Tôn Sư Hòa Thượng Thiện Phước-Nhựt Ý, năm 1960 từng theo gót chân ngài làm Thị Giả học Phật Pháp để tu tĩnh tại Điện Lôi Âm, Điện Bồ Đề. Cũng như tiếp nhận giáo lý Tam Kinh Tịnh Độ “tu tâm dưỡng tánh”, học giáo lý “tam huệ”, “tam tu vô lậu”, giáo lý “Phật học Tinh Yếu”, “Phật Học Phổ Thông” ... làm hành trang tu hành.
Ngoài ra Tăng Ni sinh chúng tôi còn được học pháp tu An Lạc Tập (Đạo Xước thiền sư, Kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Tứ Thập Nhi Chương, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Nhi Khóa Hiệp Giải, Tăng Đồ Nhà Phật, Chơn Lý Đại Đồng, từ những lời dạy của các vị Giáo Thọ Sư tại Phật Học Đường Tây Phương Bồng Đão thuở thiếu thời, cũng như nhiều năm thực hành các pháp tu đã được học. Nay nhằm để lại tài sản quý báu cho hậu học soi chung và tu hành đúng với tông chỉ của Tịnh Độ Non Bồng, chúng tôi giới thiệu những ý tưởng vô vi mầu nhiệm qua lời dạy cụ thể của Đức Tôn Sư về pháp tu của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.
Cũng tại Phật Học Đường Tây Phương Bồng Đão là nơi dạy giáo lý cho Tăng Ni, nhưng Tôn Sư cũng không quên nhắc nhở chư Tăng Ni sinh:
“Các Ông tu học, tu thì phải tu cho thực, học thì phải học cho chuyên, mới hiểu lời Phật dạy, không nên ngã mạn cống cao mà tổn hại công đức! Nhưng học thì phải tu cho rốt ráo, vì có tu mới độ được người tu. Các Ông không tu tĩnh, không lập hạnh lành, tu không chuẩn mực, phạm giới pháp của Phật... thì không độ được mọi người tu... Người tu mà còn ham danh ham lợi, địa vị tước quyền, ham mê phú quý giàu sang, làm phú Tăng... không nuôi chúng, giáo chúng cũng khó độ được người vào Phật Đạo, khó dạy người tu...”.
TỊNH ĐỘ NON BỒNG Y CỨ KINH BỘ
Giáo pháp Đức Phật Bổn Sư Thích Ca được truyền tải đến cõi ta bà, thị hiện chuyển pháp luân nói pháp Tứ Diệu Đế trong thế giới con người, nơi có những hiện tượng sanh, lão, bệnh, tử và giáo lý nhân quả. Theo quy trình của lý duyên khởi thì vũ trụ và con người luôn bị cuốn hút theo dòng chảy sanh, trụ, dị, diệt, khi thì luân hồi vào trong nhà trưởng giả, phú quý vinh hoa, khi thì vào nhà lửa, khi thì vào trong địa ngục nghèo đói, nóng bức, khi thì bị phiền não tham sân si vây quanh không lúc nào ra khỏi. Đức Phật nhìn thấy những hiện tượng khổ đau đó (thị chuyển), nên ngài quyết tìm đường ra khỏi khổ đau (chứng chuyển) và thệ nguyện đưa chúng sanh tiến đến giải thoát sanh tử luân hồi (khuyến chuyển).
Theo lời dạy của Tôn Sư Tịnh Độ Non Bồng... “kiếp sống chúng sanh và con người như là một sự trôi nổi giữa biển đời mênh mông, nay được gặp giáo pháp của Phật xuất hiện như gặp được bến bờ thoát chết. Ví như rùa “một mắt” lênh đênh giữa biển gặp được “bọng cây” liền đeo bám “bọng cây” nên khỏi bị “chết trôi”. Giáo pháp Phật ra đời cũng như thế, chính là Giới Định Huệ xuất hiện giữa dòng đời, làm phương tiện giúp cho chúng sanh giải thoát chứng đắc niết bàn...”.
Trong suốt 49 năm hoằng truyền chánh pháp của Đức Phật độ chúng sanh, thu phục những ý tưởng không có chánh kiến chống đối của ngoại đạo, giúp cho môn đệ phá mê lầm chứng quả vị vô sanh. Những dòng pháp tạo thành “Tam Tạng Thánh Điển” tùy theo căn cơ trình độ, sự tiến hóa của môn đệ, mà Đức Phật nói pháp. Sau Phật niết bàn giáo pháp của ngài được chư vị Tổ Sư “tùy duyên độ đời” chia ra làm hai luồng tư tưởng, một là Bắc truyền, hai là Nam truyền và nhiều bộ phái khác. Đến thế kỷ thứ VI, ngài Trí Giả Đại Sư (538-597) khai sơn Thiên Thai Tông minh định pháp của Phật được phân thành năm thời giáo: “Thời thứ nhứt Phật nói kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm 21 ngày, mọi người chưa có kiến thức trong tu hành nhiều nên khi nghe, chưa ai hiểu gì cả? Thời thứ hai Phật nói kinh A Hàm 12 năm tại Lộc Dã Uyển, tức là Đức Phật tùy theo căn cơ trình độ, tùy dân trí thời điểm đó còn có người thấp, người cao nên Phật nói pháp, giúp mọi người tu tiến từ thấp lên cao (tiệm tu) cho dễ tu. Thời thứ ba Phật nói kinh Phương Đẳng thời gian 8 năm, dùng nhiều phương tiện dẫn dụ tùy thuận trình độ đệ tử lúc nầy có tiến bộ, nhịp nhàng với dân trí ngày càng phát triển, hiểu rộng. Đồng thời Phật thuyết kinh Đại Thừa Phương Quảng bàn rộng giáo lý thật đa dạng đến các đệ tử, trong đó có bốn khoa giáo là Tạng Giáo, Thông Giáo, Biệt Giáo và Viên Giáo. Thời thứ tư nói kinh Bát Nhã 22 năm, tức là khi đệ tử tự tu có quá trình tu chứng và hội nhập, Phật dạy đến chơn lý giải thoát cao siêu, phân biệt đâu là chơn như đâu là vọng tưởng, trong quá trình hội nhập độ đời. Thời thứ năm nói kinh Pháp Hoa và Niết Bàn 8 năm (từ điển Phật học Đoàn Trung Còn, tập hai, trang 418). Do trình độ tri thức con người có cao thấp sự nhận định có khác nhau, sự giác ngộ không đồng đều, Phật dạy đến việc giáo lý Phật có nhiều thừa, không đòi hỏi chỉ có Phật Thừa, mà có cả Tam Thừa, Tứ Quả, giúp cho việc tu hành của mọi người ngày càng có sự phát triển chiều sâu (Tam Thừa), và cả chiều cao (Phật Thừa).
Trong năm thời kỳ đó, có biết bao nhiêu phương tiện nói pháp, Đức Phật tùy các cung các cõi, các thế giới ở không trung, thế giới mặt đất, thế giới vô hình, thế giới hữu hình, thế giới cao, thế giới thấp... đều được tùy thuận giúp cho các loài tiến hóa. Vì vậy mà giáo pháp Phật có mặt trong khắp mười phương, đưa chúng sanh vào Phật đạo, giải thoát luân hồi.
Giáo pháp Phật được các bậc Đạo Sư, các bậc có trí tuệ siêu việt tiếp nhận tu hành đắc đạo và triển khai nhiều pháp tu, trong đó có pháp môn Thiền, Tịnh, Luật, Mật là dễ thực hành, thường là dành cho chúng sanh ở thế giới ta bà dể học, dễ tu, dễ chứng. Nay chúng tôi người tu xuất gia, học pháp môn niệm Phật đến nay 62 năm (tính từ năm 1956 đến năm 2018). Pháp môn chúng tôi tu có truyền thống 98 năm (tính từ năm 1920 đến năm 2018), do Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức, Tôn Sư Thiện Phước-Nhựt Ý giáo chúng tu hành, nhận thấy Pháp Phật thì đa dạng phong phú, dù ở thời xa xưa hay cận đại cũng cần phải có sự đúc kết lôgic.
Trong niệm phật có: Trì danh niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Quán tượng niệm Phật và Thật tướng niệm Phật.
Pháp kệ niệm Phật: hành giả đọc một bài kệ rồi niệm Phật, tiếp bài kệ kế và cho đến hết thời khoá khoảng 45 phút, là một trong 52 pháp niệm Phật trích từ Pháp Giáo Tịnh Độ Non Bồng nhằm đưa hành giả đến các trạng thái tâm tịch tĩnh, đắc đạo đắc quả.
Lẫn bẫn phong trần tự bấy lâu
Mà chơn hạnh phúc những là đâu?
Ngày nay hồi hướng về an dưỡng
Kiếp mộng vô minh đã dãi dầu.
- Thân phận bao la khắp thái hư
Điểm trần lặng lẽ chẳng còn dư
Chớ đem tri kiến nhiều phân biệt
Một niệm hồi quang thấy Đại từ.
- Chuỗi làn trăm tám chẳng đuôi đầu
Mỗi niệm tinh minh mỗi hạt châu
Sáu chữ mở toang vô tận tạng
Như như buông thả lại hồi thâu.
- Cảnh vườn tịch mịch tợ lâm san
Ngày vắng kìa ai ngõ bế quan
Nhắn bạn đồng tu nên tự tĩnh
Đừng theo ngoài cửa mãi mơ màng.
- Dưới đỉnh rêu phong ngập ráng mây
Ngon mùi lê hoác dạ vui vầy
Gió Đông khéo mách nguồn tâm sự
Tiếng Phật êm đềm quá gác Tây.
- Rừng lạnh ngàn mai nở trắng phau
Cành xuân chim hót giọng thanh thao
Hương nguyền vì niệm Quan Âm hiệu
Thinh sắc đường kia chớ lạc vào.
- Ngước lên rồi lại cúi đầu trông
Liêu Quốc đâu từng cách mảy lông?
Tiếng hát Ca lăng đà nói rõ
Đây miền chơn tịnh chớ mê lòng!
- Giữa đêm trường tịch chốn môn đình
Phá cảnh hôn trần nói kệ kinh
Mãn khóa Pháp Hoa nhàn rỗi việc
Chén trà Long tỉnh uống vơi bình.
- Lại đối Ni Sơn hỏi cựu manh?
Cung đàn réo rắc điệu vô sanh
Trong bầu xuân sắc đi thong thả
Dưới gót hoa luân nở một vành.
- Non tiên vũ khách gọi thanh chân
Lối rẽ nhiều phen phải hỏi thăm
Chớ xót nguồn hoa tin tức vắng
Cảnh xưa bên suối vẫn đầy Xuân.

















