Quan Niệm Ăn Chay Của Một Số Tôn Giáo Trên Thế Giới
- Các khái niệm về ăn chay
Trên thế giới có các quan niệm về ăn chay khác nhau, Có nơi cho rằng ăn chay là ăn hoàn toàn các thực phẩm thực vật không chọn những thực phẩm có nguồn gốc động vật. Có nơi thì ngoài thực phẩm thực vật còn dùng thêm sữa và trứng… Cũng có những tôn giáo ăn chay là không ăn một loại thịt bò hoặc heo .v.v… tùy theo nhu cầu, tư tưởng, văn hóa, tôn giáo của từng đất nước, từng địa phương và thời đại mà con người có những quan niệm về ăn chay khác nhau. Nhưng nhìn chung thì ăn chay có thể được kết tập thành các dạng chính như sau:
- Chế độ ăn chay Lacto (sữa): Đây là chủ nghĩa ăn chay với sự lựa chọn thực phẩm thực vật, không ăn các loài động vật kể cả các loài sống dưới nước, không ăn trứng nhưng họ có thể dùng sữa động vật như sữa bò...
- Chế độ ăn chay Ovo (trứng): Nghĩa là ngoài lựa chọn thực phẩm thực vật thì những người ăn chay trường còn có thể dùng trứng. Chế độ ăn chay ovo chỉ ăn trứng mà không ăn sữa động vật. Ý tưởng ở đây là trứng chưa phải là động vật, những người ăn chay ovo tránh những thực phẩm có nguồn gốc là sữa động vật nhưng vẫn có thể dùng trứng, miễn là chúng có nguồn gốc hợp lý.
- Chế độ ăn Lacto-ovo (sữa-trứng): Là chế độ ăn chay ngoài lựa chọn thực phẩm thực vật thì người ăn còn ăn được cả trứng và sữa.
- Chế độ ăn Pescatarian: Là những người cũng gọi là ăn chay không ăn thịt, nhưng họ có thể ăn được tất cả các loài hải sản. Trên bàn ăn của họ có thể lấp đầy bởi những đĩa cá ngừ, cá hồi, tôm hùm, tôm và tất cả các sinh vật biển được nấu chính khác. Nhưng họ không ăn thịt bò, gia cầm hoặc nội tạng động vật.
- Chế độ ăn bán chay: Là chế độ ăn chay linh hoạt, những người ăn bán chay thường lựa chọn thực phẩm thực vật là chính. Họ thích trái cây, rau và các loại thực phẩm không phải động vật khác. Không ưa thích ăn thịt nhưng đôi khi cũng có thể dùng thịt.
Đó là năm quan điểm ăn chay phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Để hiểu rõ hơn về những chế độ ăn chay khác nhau như vậy, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu khái quát về đặc điểm ăn chay của một số tôn giáo trên thế giới.
1.1 Quan niệm ăn chay của một số tôn giáo trên thế giới
Ăn chay là một vấn đề không còn xa lạ đối với rất nhiều nước trên thế giới hiện nay. Nó được bắt nguồn từ thời cổ đại, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng thời cổ đại con người đã biết về lợi ích của việc ăn chay. Thời Cổ đại việc thực hành và truyền bá ăn chay phần nhiều là do các tu sĩ, giáo sĩ của các tôn giáo thực hiện. Các nước Bắc Phi như Ai Cập, hay cận Trung Á như Hy Lạp thì việc ăn chay cũng được cho là giữ cơ thể thanh sạch trước lễ Thần linh…
Mỗi tôn giáo đều có những quan điểm, chủ thuyết của việc ăn chay khác nhau. Không riêng gì Phật giáo mà các tôn giáo lớn trên thế giới như Kito giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo… cũng có thuyết ăn chay nhưng ăn như thế nào, vào thời điểm nào, rồi phương cách ăn ra sao thì mỗi tôn giáo đều có mỗi phương thức khác nhau.
Quan niệm ăn chay của Kito[1] giáo
Kinh Tân Ước Kito cấm ăn máu được ghi trong sách Công vụ Tông Đồ, ngoài ra không cấm các loại thực phẩm nhất định nào.
Vào thời Trung cổ tại các nhà thờ và Tu viện Kito các giáo sĩ, tu sĩ, ma sơ… đã ăn chay như là một sự tu luyện chống lại ham muốn về thể xác, đồng thời ăn chay để sám hối tội lỗi trước chúa Jesus, Cha và Con và các Thánh Thần. Ý nghĩa chay tịnh của Kito giáo được tiên tri Isaia chỉ rõ nhau sau:
“Là hủy bỏ xiềng xích bất công, tháo gỡ ách nặng, trả tự do cho người bị áp bức, dẹp bỏ mọi gánh nặng, hãy chia cơm bánh cho kẻ đói, tiếp rước những kẻ phiêu bạc không nhà. Nếu ngươi gặp một người trần truồng hãy cho họ áo mặc, người đừng khi bỉ người cùng xác thịt như mình”[2].

Các Kito giáo hiện đại như Ellen G. White, một trong những sáng lập của Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, có giáo lý ăn chay vì cho rằng ăn chay là thể hiện sự thanh sạch của Thiên Đường.
Tuy nhiên tín đồ Ki tô giáo hiện nayăn chay có phân theo độ tuổi, và trong những ngày chay họ chỉ cấm thịt, còn có thể dùng nước thịt và các loài vật máu lạnh như tôm, cua, cá, ốc… và chỉ ăn no một ngày một bữa, chọn bữa ăn nào để ăn no cũng được.
Quan niệm ăn chay của Hồi giáo[3]
Người Hồi giáo ăn chay vào tháng 9 gọi là tháng Ramadan.
Những ngày trong tháng này tín đồ Hồi giáo đều thực hiện cầu nguyện từ bình minh tới hoàng hôn. Họ chỉ ăn vào lúc bình minh chưa lên và sau khi hoàng hôn phủ xuống. Còn cả ngày thì họ giữ gìn giới luật và không ăn gì cả.
Tháng chay Ramadan là một trong năm quy định của tín đồ Hồi giáo. Mục đích thực hiện là nhằm thể hiện sự đồng cảm đến những người nghèo đói, và quan trọng hơn là để tự thân rèn luyện tiết chế, bỏ bớt những tham cầu và dục vọng. Ngoài ra tháng chay Ramadan của người Hồi giáo không chỉ nhịn ăn và ăn chay vào sáng khi mặt trời chưa lên và bữa tối khi mặt trời đã khuất, họ còn có nhiều nghi lế và hoạt động khác của tôn giáo này.
Ăn chay theo Ấn Độ giáo[4]
Nền văn minh cổ đại của Ấn Độ từ khi Đức Phật Thích Ca chưa ra đời
thì người ta đã ăn chay rồi. Và đến bây giờ, sau hơn hai ngàn năm thì người dân Ấn Độ vẫn chuộng việc ăn chay, ăn ngũ cốc nhiều hơn thịt cá. Một trong những tôn giáo lớn ẩn hưởng chủ thuyết ăn chay rộng khắp dân Ấn Độ là Ấn Độ giáo. Ăn chay theo Ấn Độ giáo còn gọi là Trai giới, ăn lạt, là một chế độ ăn uống chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật (trái cây, rau quả,…) có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng, mật ong, bơ, phomai, kem, đạm váng sữa và hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầm, hải sản, côn trùng), kiêng ăn những thực phẩm có được từ nguồn gốc giết mổ như chả, giò, mắm, ruốc, thịt hun khói…). Ở Ấn Độ khoảng 40% dân số theo Ấn giáo là những người ăn chay.
Ăn chay theo Đạo giáo[5]
Nghĩa của từ “ăn chay” ở Trung Quốc cổ đại không có nghĩa là “không có thịt”, ý nghĩa ban đầu của từ "素- chay" có nghĩa là trong trắng, sạch sẽ, đơn giản. Theo đây những đạo sĩ tu và tín đồ theo Đạo giáo lúc ban đầu không nhất thiết là phải ăn chay trường. Họ có quyền ăn thịt được mua từ chợ nhưng không được sát sanh và nhất định không được ăn huyết (máu).
Các tín đồ Đạo gia không nhất thiết phải ăn chay trường nhưng họ ăn chay kỳ, thường ăn vào những ngày sóc vọng (trăng tròn) như ngày mùng 1 và 15… vì Đạo gia cho rằng những ngày này mặt trời, mặt trăng và trái đất thẳng hàng, là thời điểm lục hút của mặt trăng với trái đất mạnh nhất, biểu hiện qua việc thủy triều lên cao. Cơ thể của con người hơn 70% là nước nên các tế bào cũng sẽ chịu sự tác động bởi lục hút của mặt trăng. Máu trong cơ thể người sẽ đạt mức tối đa. Hoạt động hệ tuần hoàn thay đổi, cơ thể rối loạn, nhất là hệ thần kinh chịu tác động nhiều nhất. Vào những ngày này dưới tác động thủy triều cực đại của mặt trăng nên con người rất dễ vi phạm giới luật vì vậy ăn chay để thích ứng với tự nhiên, giúp con người làm chủ được cảm xúc nhất định. “Hoàng đế nội kinh” nói: “Trời ăn thịt người ngũ khí, đất ăn thịt người ngũ khí”. Đạo giáo cho rằng con người có quan hệ mật thiết với giới tự nhiên,
những thay đổi về địa lý, khí hậu ngoại cảnh nhất định ảnh hưởng đến sự thay đổi âm dương trong cơ thể con người. Để duy trì sự cân bằng âm dương trong cơ thể con người, người ta phải thích ứng với những thay đổi của tự nhiên[6].
Càng về sau, Đạo giáo cho rằng ăn chay cũng là một trong những sự phát triển không ngừng của nền văn minh nhân loại và xã hội tự nhiên. Con người bắt đầu suy ngẫm về thói quen ăn uống của mình và đưa việc ăn chay vào những dịp thiêng liêng và trang trọng. Vào đêm trước các hoạt động tế lễ lớn, cần phải ăn chay trong vài ngày, thanh lọc cơ thể và thanh lọc tâm hồn, “làm sạch lòng” chủ yếu là nói đến việc không ham muốn dục vọng và hài lòng với tâm trạng tỉnh lặng, dần dần nhận ra rằng ham mê không chỉ gây hại cho cơ thể mà còn dẫn đến chống mặt, thậm chí là cội rễ của mọi tai họa. Quan niệm ăn chay để tu tâm.[7]
Mong muốn cuối cùng của Lão giáo khi đề cao việc ăn chay là để tu đạo và để thực hiện tầm nhìn cao xa của quy luật nhân quả và vòng vận hành của tự nhiên.
Ăn chay theo Khổng giáo (Nho giáo)
Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là Nhân, Nghĩa,
tình thương, lòng trắc ẩn và bất bạo động. Mạnh Tử cho rằng người hiền cũng đối với cả loài vật, nhìn thấy sự sống của loài vật, không thể chịu được khi thấy chúng bị chết vì giết hại, nghe tiếng chúng kêu la và không thể chịu nỗi khi ăn thịt của loài vật. Vì những tư tưởng về lòng nhân từ và bất bạo động nên Nho giáo cũng chủ trương ăn chay. Quan niệm ăn chay của Nho giáo cũng là ăn thuần thực vật, không chọn những thực phẩm có liên quan đến động vật kể cả các loài ở dưới nước. Văn hóa phong kiến Trung Quốc được thấm nhuần bởi tư tưởng Nho Gia, vì vậy mà truyền thống tang lễ Trung Quốc thường không được sát sanh. Khi trong nhà có ông bà, cha mẹ mất thì con cháu phải ăn chay để tưởng nhớ.
Nho giáo không bắt buộc phải ăn chay trường, nhưng trai giới vẫn luôn được chú trọng đối với người tu theo Nho giáo.
Thần Đạo ăn chay như thế nào
Tu theo Thần đạo rất nhẹ nhàng,
luật lệ không nghiêm khắc bằng cỏi Trời (Chư Thiên). Ngoài một số giới điều tu thân thì vẫn phải tu tâm hướng thiện, lập công đức. Thần Đạo không quá khắt khe về chay lạt nhưng có một số loại thịt như mèo, chó, rùa, rắn, trâu và máu (tuyết canh)… là thịt của những loài linh tính không được ăn. Thần Đạo cho rằng thịt chó, mèo trược khí rất nhiều nên không được phép ăn vì nó ảnh hưởng tới điển lực và sự vận hành của khí mạch.
Đạo Sikh ăn chay[8]
Có thể nói đạo Sikh là một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo…
Đạo sikh quy định các tín đồ tuyệt đối không ăn thịt giết theo nghi thức. Người theo đạo sikh không bị ràng buộc phải ăn chay, nhưng một số người Sikh ăn chay vì họ tôn trọng động vật.
Trong lễ Gurdwara của Sikh giáo thì chỉ phục vụ bằng đồ chay. Một người theo đạo Sikh ăn chay hay không cũng có thể phụ thuộc vào truyền thống hoặc vùng miền của người đó.

Ngôi đền đạo Sikh nơi có bếp cơm chay miễn phí lớn nhất thế giới
Do Thái giáo[9] ăn chay
Kinh điển nền tảng của Do Thái giáo là cựu ước cũng có vài chổ đề cập tới ăn mặn, nhưng giáo lý căn bản vẫn dạy tín đồ phải trường chay và không sát sinh hại vật. Trong “sáng thế ký” quyển đầu của kinh Cựu Ước có đoạn viết: “Ta ban cho các con đầy đủ các loại rau quả và ngũ cốc khắp nơi trên thế giới này. Đó là thức ăn của các con vậy… cùng những loài thú khắp nơi trên địa cầu, những nơi có sự sống, ta đã ban cho các ngươi các loại rau quả và ngũ cốc để ăn… thịt vốn có máu và sự sống, nên các con không được ăn.
Như vậy cho thấy thời sơ khai của Do Thái giáo khuyến khích tín đồ ăn chay, tức là chọn những thực phẩm có nguồn gốc thực vật. Tuy nhiên tín đồ Do Thái giáo không bắt buộc phải ăn chay hoàn toàn.
Trên đây là quan điểm ăn chay của một số tôn giáo lớn trên thế giới. Đến thời hiện đại thì ăn chay không còn giới hạn trong tôn giáo mà đã ảnh hưởng rộng lớn đến mọi tầng lớp con người trên khắp các châu lục. Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu về những tổ chức ăn chay thế giới, những nhà nghiên cứu khoa học đã nói những gì về việc ăn chay và những lợi ích của nó đối với con người và môi trường sống.
(Còn tiếp)
[1] Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Giêsu được gọi là Kitô hữu tại thành Antioch (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Kitô giáo được đánh giá là tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay.
Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất. Nhiều phân tích nghiên cứu thống kê ước tính từ 1,5 tỉ đến 2,1 tỉ người xưng nhận niềm tin Kitô giáo trong thập niên 1990. Theo Pew Research Center, vào năm 2010, Kitô giáo có khoảng 2,2 tỷ tín hữu (chiếm 32% tổng dân số thế giới). Nguồn số liệu theo Adherents.com, Kitô giáo có trên 2,4 tỉ tín đồ.
[3] Còn gọi là đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham. Đây là tôn giáo được đánh giá có tốc độ phát triển đang khá mạnh và lớn thứ hai trên thế giới. Số tín đồ hiện nay là khoảng 1,5 tỷ (Nguồn số liệu theo Adherents.com). Nguyên nghĩa của Hồi giáo trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là “vâng mệnh, quy phục Thượng đế”.
[4] Ấn Độ giáo có số lượng tín đồ 900 triệu (số liệu từ nguồn Adherents.com). Và Ấn Độ giáo thuộc top những tôn giáo lớn nhất thế giới. Ấn Độ giáo bao gồm các vùng: Nam Á, Đông Nam Á, Fiji, Guyana, Mauritus. Điểm chung của tất cả các nhánh Ấn Độ giáo là việc tôn thờ Thánh tượng.
[5] Đạo giáo có xuất xứ nguồn gốc từ thế kỉ 4 TCN. Khi mà xuất hiện tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử và Đạo giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ.
Theo số liệu thống kê, Đạo giáo có số lượng tín đồ khoảng 400 triệu. Gồm các vùng lãnh thổ: Trung Quốc là chủ yếu, Singapore, Malaysia, và cộng đồng người Hoa hải ngoại.
Đạo giáo có những quan niệm về vũ trụ và vạn vật, về nhân sinh và Đạo giáo cũng có mối quan hệ với Phật giáo.
[6] 《黄帝内经》曰:“天食人以五气,地食人以五味”。道教认为人与自然界息息相关,外界环境中地理、气候的变化,势必影响人体内的阴阳变化。要保持人体内的阴阳平衡,必须做到与自然界的变化相适应。
[7] 随着人类文明和自然社会的不断发展,人们开始反思自己的饮食习惯,就把吃素纳入神圣庄严的场合。在重大的祭祀活动前夕,一定要“茹素数日,以净其身,清其心。”“清其心”主要为不纵欲,满足于恬淡之心境,修道者逐渐清醒意识到,纵欲不仅有损身体,而且还是导致昏聩,乃至一切灾殃的根源所在,在民间有初一、十五吃素的习俗,就是吃素以修心理念的深刻体现。
[8] Sikh giáo hay còn gọi là Tích-khắc giáo và được sáng lập vào thế kỉ thứ 15. Đạo Sikh không có các giáo chức, nhưng trong các đền thờ của đạo Sikh. Thường có những người có khả năng đọc được Sách kinh, gọi là Granthi, đứng ra trông coi việc đạo. Sikh giáo có số lượng tín đồ vào khoảng 23 triệu và thuộc top những tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay.
[9] Ước tính 14 triệu tín đồ. Vùng lãnh thổ chủ yếu: Israel, Mỹ, châu Âu. Do Thái giáo là một tôn giáo đặt nền tảng trên Kinh Torah (là một phần của Kinh Tanakh hay Kinh Thánh Hebrew), gắn liền với lịch sử dân tộc Do Thái. Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái.
