NGUYỄN NGỌC HÒA
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
TIN TỨC»DIỄN ĐÀN

Quan Âm Khởi Tín Luận - Đức Thầy Ni Trưởng Huệ Giác giảng giải tại Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

14/07/2021 08:48 738

- Bộ kinh này có lợi ích cho chúng ta những phần nghi ngờ, những phần chưa hiểu biết về Ngài Chơn Tín hỏi Đại Sư để Ngài nhắc nhở cho chúng ta đâu là đường ngay nẻo thẳng, đường chơn đường chánh, đâu là chỗ đúng đắn để chúng ta tu hành nên Thầy phát nguyện giảng lại Quan Thế Âm Khởi Tín Luận.

Hôm nay bắt đầu quý vị nghe rồi, chúng ta nên giảng dạy thêm, để lại cho con cháu cùng học cùng nghe để cố gắng hành trì, tu học.

Hôm nay là chương thứ nhất tìm nguồn gốc khổ gọi là bình thường ưa nói khổ thân, nhưng mà mình không hiểu rõ sao là khổ thân nó có mấy thứ: Thân này có sanh tức là mình mới sanh ra, rồi già lớn tuổi, rồi già lượm khượm. Khi mới sanh còn trẻ thì ít bệnh rồi sau hay bệnh hay đau lần hồi đến sự chết, cho nên sanh già bệnh chết gọi là khổ. Cái nguồn gốc khổ cho nên đây Phật có dạy rõ cho chúng ta nghe để chúng ta biết tại sao cũng tu cũng mang thân này mà các Ngài cũng có bệnh có già như ta, tuy vậy không có khổ còn mình khi bệnh đau, hay già hay bất mãn hay buồn tủi, rồi quý vị nghe trong đây lòng mình được an ổn để mình thấy rõ lẽ sống của mình hằng ngày bình thường mà mình vẫn an lạc hạnh phúc, khi mình tu chưa giải thoát chưa về Phật tâm mình vẫn được an nhàn thanh thoát, quý vị nên lắng nghe.

CHÁNH VĂN: Trong hàng thính giả có ông Chân Tín là bậc trưởng thượng trong làng, tánh Ông rất ngay thẳng và chân thật, Ông rất hâm mộ triết lý của Phật, đã có xem qua nhiều kinh nhiều sách của Phật, nhưng không bao giờ tin yêu trọn vẹn sự việc nào mà tự ông cho là chưa được xác thật.

GIẢI NGHĨA: “Ông cũng kỹ vậy đó nghe cái nào mà hư hư ảo ảo, ông cũng không chịu nghe chịu tin cho nên giờ bậc Thầy lành bạn sáng giải thích cho”.

CHÁNH VĂN: Trong pháp hội ông rời chỗ ngồi đến trước Đại Sư làm lễ ba lạy rồi quỳ thưa rằng: Tôi rất mê tối chưa nhận được lý chắc thật nay gặp được phước duyên đời trước nên mới gặp được Đại Sư trong các lời thưa hỏi nếu có vụng về phạm tội mong Đại Sư tha thứ cho con.

Đại Sư nói: Bần tăng cũng còn trong dòng tu học, nhưng biện luận là để soi sáng lẫn nhau nên chấp nhất những chữ phải dụng tâm thành Phật, ông hãy đứng dậy cứ đúng pháp mà còn thưa hỏi,

Ông Chân Tín liền đứng dậy thưa với Ngài rằng: Tôi đã quan sát thấy những bậc đại đức các pháp Phật giải thoát những cái khổ của già bệnh chết.

GIẢI NGHĨA: các vấn đề này chúng ta phải nên suy giải tại sao, quý vị có tu cũng chết, rồi người không tu cũng chết, nhưng mà khi tu người chết được cái phần nào bỏ xác, được cái thân tâm của người ta ra sao còn mình ở ngoài đời thì mình thế nào cho nên mình phải nghe Đại Sư giảng để mình thông suốt và lòng nghi ngờ không còn nữa.

CHÁNH VĂN:

Ông Chân Tín thưa: Người có tu hành lúc bệnh cũng rên, lúc già cũng mệt nhọc lưng còm gối mỏi, lúc chết cũng hấp hối như thế thì sao gọi là thọ ảnh hưởng khác thân người thường là thế nào.

Đại Sư nói: Người bệnh phải rên là do sự hành hạ của sắc thân bị bệnh, người già cả phải mệt nhọc là do sự yếu đuối của gân cốt, người gần chết phải hấp hối là do tính cách tan rả của bốn chất đất, nước, lửa, gió, của sắc thân người tu có bị đau đớn nhưng thật sự không có bị khổ. Bần tăng xin nói lại cho ông rõ trong lúc ông bệnh uống thuốc không thấy bớt ông có buồn không, ngược lại bệnh khuyên giảm ông có mừng chăng trong lúc già đi đứng mệt nhọc khó khăn ông có tủi có buồn cho thân già hay chăng, và trong lúc sắp chết ông có tiếc mạng sống hay chăng, ông sẽ cảm động trước sự khóc lóc của thân quyến hay chăng, ông còn nhớ nghĩ về con cháu nữa hay chăng, ông có tiếc danh phận và sản nghiệp nơi đời để lại hay chăng.

Ông Chân Tín thưa: Trong lúc bệnh uống thuốc mà thấy bệnh không được khuyên giảm là tôi rất buồn, bằng ngược lại tôi rất vui mừng vì bệnh hành hạ làm tôi phải khổ trong lúc già tôi rất khổ tâm khi phải đi đứng mệt nhọc và khó khăn vậy nên tôi rất buồn tủi cho thân già ai lại không muốn sống lâu, cho nên cái chết đến là phải buồn thân quyến bịnh rịnh, khóc lóc chắc là tui không cầm lòng được vì ngày thường xa nhà một thời gian ngắn mà tui còn nhiều nhớ nhung huống chi đây là cách chia lìa vĩnh viễn con cháu còn nhiều đứa chưa nên sự nghiệp làm sao phải khỏi lo nghĩ đến chúng sản nghiệp và danh phận là kết quả của công khó nhọc trọn đời tôi nay phải bỏ hết làm sao không luyến tiếc.

Đại Sư nói: Trong lúc già bệnh chết người tu không có những nghĩ tưởng giống như ông nên không bị khổ,

Ông Chân Tín thưa: Tôi giàu có dư giả lại cũng có chức phận trong làng được mọi người kính nể vậy ích lợi gì mà tui phải tu.

Đại Sư nói: Ông năm nay đã lớn tuổi chắc thuở nhỏ có làm ruộng và đi buôn chăng,

Ông Chân Tín thưa: Hiện nay cũng còn làm ruộng thuở còn trai trẻ tôi có đi buôn nhiều lần.

Đại Sư nói: Nhầm năm làm ruộng bị thất bát hoặc lúc buôn bán bị lỗ lả ông có buồn chăng.

Ông Chân Tín thưa: Tôi cũng có buồn không nhiều thì ít.

Đại Sư nói: Chính cái buồn ấy, là nguồn gốc khổ của ông làm như vậy nữa. Có lúc nào bà ở nhà cãi lời ông làm cho ông giận chăng.

Ông Chân Tín thưa: Có mãi trường hợp này xảy ra cho tôi.

Đại Sư nói: Chính cái giận này là nguồn gốc khổ của ông, lại như vậy nữa ông hiền lành thích làm việc phước thiện. Khi thấy người làm ác hoặc tham làm bỏn sẻn ông có phát tâm không ưa chăng

Ông Chân Tính thưa: Tôi rất ghét mấy kẻ đó lắm.

Đại Sứ nói: Chính cái ghét này là nguồn gốc khổ của ông. Lại như vậy nữa có lúc nào quan trên nói hiếp ông làm ông tức tối chăng.

Ông Chân Tín thưa: Sự việc nào có oan ức là tôi rất tức tối.

Đại Sư nói: Chính cái tức tối này là nguồn gốc khổ của ông đó, lại như vậy nữa có khi nào ông tán thưởng việc làm của kẻ khác chăng.

Ông Chân Tín thưa: Người làm được việc lành mình phải tán thưởng chứ.

Đại Sư nói: Sự tán thưởng này là nguồn gốc khổ cho ông đó nữa. Lại như vậy nữa. Trong các đứa con của ông đứa nào chiều chuộng vâng lời ông nhiều nhất là được ông thương hơn tất cả phải chăng.

Ông Chân Tín thưa: Cũng như vậy đứa nào vâng lời chiều chuộng tôi nhiều nhất là được tôi thương nhiều hơn hết.

Đại Sư nói: Chính cái thương bất bình đẳng ấy là nguồn gốc cái khổ của ông đó vậy. Lại như vậy nữa trong đời ông ông quý trọng cái gì trước nhất.

Ông Chân Tín thưa: Đại Sư tôi quý trọng thân thể tôi trước nhất.

Đại Sư nói: Chính cái quý trọng thân thể là nguồn gốc khổ của ông. Lại như vậy nữa, sau cái thân thể ông lo cho ai nhiều hơn hết.

Ông Chân Tín thưa: Tôi lo cho gia đình nhiều hơn hết.

Đại Sư nói: Chính cái lo gia đình là nguồn gốc khổ của ông đó.

Ông Chân Tín thưa: Không biết lo gia đình là không bổn phận rồi, người không biết bổn phận ấy đâu làm nên sự nghiệp gì.

Đại Sư nói: Cũng chính cái lo bổn phận là nguồn gốc khổ của ông, buồn giận là khổ, câm hờn tức tối là khổ, thuận nghịch là khổ, ưa ghét thương yêu quý mến là khổ, lo nghỉ bổn phận là khổ vậy.

Ông Chân Tín thưa: Làm người sinh ra trong đời đâu ai tránh được những thứ khổ ấy.

Đại Sư nói: Ông nói rất đúng người đời đã tự biết đã không tránh được chữ khổ nói trên vậy tại sao không lo tu tập giải thoát cho mình.

Lúc đó Ông Chân Tín thưa: Tự thể giờ tôi xem các thứ khổ ấy là thông thường lắm không có thể giải thoát được,

Nay Đại Sư nói: Có phương pháp giải thoát các khổ này tôi rất vui mừng nhờ ngài chỉ dạy cho tôi thông hiểu,

Đại Sư nói: Người đời có nhiều kiến thức sai lầm nên nay hay lấy khổ làm vui chơi, giỡn với các sự khổ, cam chịu bị khổ, không bao giờ lo giải thoát, nay ông muốn tu học pháp giải thoát của Phật dạy, ông nên tìm sự thật về đời sống của ông, để khỏi thấy biết sai lầm nữa. Cái thấy biết chân chính sẽ là căn bản làm phương pháp khổ của ông đó vậy. Sao lại thấy biết chân chánh sự thật về cái biết của thân thể.

Ông Chân Tín thưa: Với ngài Đại Sư như thế này, Nhờ Đại Sư cho tôi biết sự thật về cái chết của một thân thể ra sao.

Đại Sư nói: Bổn thể chân thật của mỗi người là không có chết. Cái chết của một thân thể là tướng diệt của một tư tưởng, nghe nói là cái bản thân của chân thật của một người là không có chết.

Ông Chân Tín thưa: Tư tưởng không thể là hình tướng vật chất, vậy đâu có thể so sánh nó với thân thể được.

Đại Sư nói: Thân thể của người nào không còn tư tưởng nữa thì có thể gọi được là người đó còn sống chăng.

Ông Chân Tín thưa: Thân mà không còn tư tưởng là người chết rồi. Tại sao vậy, thân còn nằm đó kêu yêu mà không thấy trả lời, mình sờ cũng không thấy trả lời và thấy là một cái xác chết, thân nằm yên lặng mà thôi.

Đại Sư nói: Vậy là sự sống của thân thể là sự còn duy trì của tư tưởng, hể tư tưởng diệt làm người chết, bởi cho nên tư tưởng là gốc của sự sống chết của thân thể vậy.

Ông Chân Tín thưa: Mỗi người có đến, mỗi người đều có nhiều tư tưởng. Vậy cái tư tưởng nào duy trì sự sống của thân thể được.

Đại Sư nói: Cái tư tưởng nào tạo ra thân thể mới duy trì được sự sống của nó. Nguồn gốc của thân thể là thế nào,

Ông Chân Tín thưa: Vậy cái tư tưởng nào đã tạo ra thân thể của tôi hiện nay, Đại sứ nói như vậy thân thể của ông là cái tư tưởng dục nhiễm đã được cha mẹ ông vật chất quá,

Ông Chân Tín thưa: Nhờ Đại Sư dẫn chứng cho tôi nghe tôi mới tin được.

Đại Sư nói: Cái thai sinh thân ông là do sự kết hợp tinh huyết của cha mẹ. Có sự kết hợp tinh huyết của cha mẹ là do sự ân ái của đôi bên, nguyên nhân của sự ân ái là sự mến thương, nguyên nhân của sự mến thương là tham tài sắc, tham tài sắc là cái tư tưởng dục nhiễm. Chính cái tư tưởng dục nhiệm này đã tạo ra thân thể của ông đó vậy.

Ông Chân Tín thưa: Cái tư tưởng dục nhiễm ấy là của cha mẹ tôi chứ đâu phải của tôi.

Đại Sư nói: Lời của ông nói cũng như cây quýt tự nói hạt giống sinh ra là thân tôi chứ đâu phải của tôi.

Ông Chân Tín thưa: Vì lý quá hiển nhiên nên tôi không thể chối cãi, đành rằng cái thân thể của tôi là nguồn gốc nơi tư tưởng dục nhiễm của cha mẹ tôi nhưng duyên cớ nào mà tôi lại có nhiều thứ tư tưởng mà cha mẹ tôi không bao giờ có ra vậy.

Đại Sư nói: Cái tư tưởng dục nhiễm sinh ra thân ông với cái tư tưởng của cha mẹ ông là một hai là không khác mà khác, sao gọi là một là hai, là hai là một nghĩa một là hay là như vậy đá nam châm hay hít sắt. Cái tư tưởng dục nhiễm của cha mẹ ông như đá nam châm, còn cái tư tưởng dục nhiễm của ông cũng giống như sắt vậy. Vì hợp nên đá nam châm hút được sắt và nhập chung làm một với sắt. Nhưng sự thật đá nam châm và sắt là hai chất khác nhau, nghĩa không khác là khác là sao, cái tư tưởng dục nhiễm của ông là dòng giống, giống với cha mẹ ông vậy nên không thể nào gọi là khác được nhưng nhân của ông là phần ông hưởng, quả sự việc ấy là cần một người nhận biết lấy. Nhưng hiện giờ đây ông nhận được sắc thân của ông nó không phải là hoàn toàn cái tư tưởng dục nhiễm của cha mẹ sinh ra ra, như người ngoài cuộc không thể nào chỉ được nguyên nhân nào khác sinh được thân ông ngoài cái tư tưởng dục nhiễm ấy. Tư tưởng dục nhiễm của cha mẹ ông. Bởi cớ sao tư tưởng dục nhiễm đồng loại, cũng như vật chất đồng loại, nước với nước à đồng loại, lửa với lửa là đồng loại vậy, nước đựng trong ly và nước đựng trong tách là hai thứ nước khác lượng, và ở hai nơi, bây giờ đem hai thứ lượng nước này đổ chung lộn vào nhau. Xong rồi ông có thể chỉ và phân biệt được cái thứ nước nào là nước kia đựng trong ly hoặc đựng trong tách chăng, hẳn là không được vậy lại như vậy nữa hai đống lửa được nhóm riêng một đống lửa lớn và một đống lửa nhỏ đem hai đống lửa này nhập chung là một. Bây giờ ông có thể chỉ và phân biệt được thứ lửa nào là trước kia của đống lớn và đống nào của lửa nhỏ chăng. Tư tưởng dục nhiệm của ông và tư tưởng dục nhiệm của cha mẹ ông nhập lại cũng như trường hợp nước với lửa ở trên vậy đời sống của cái ta là bất diệt,

Ông Chân Tín thưa: Đại Sư nói bản thể chân thật của mỗi người không có chết vậy chứ đời sống của nó ra làm sao.

Đại Sư nói: Thân thể luân phiên nhau mà thành tựu và tan rã, cũng như tư tưởng luân phiên nhau sanh diệt, cũng có cái ta và tư tưởng nào cũng có cái ta. Người ta chuyển tiếp từ thân thể này qua thân thể khác hoặc từ tư tưởng này qua tư tưởng khác. Sự việc như vậy cũng giống như người bỏ cái nhà cũ để đến ở cái nhà mới vậy thôi, hoặc bộ y phục cũ mặc một bộ y phục mới vậy, khi nào người tự thấy mất hẳn cái nguồn cảm biết nữa thì mới được gọi là cái ta diệt. Nhưng không bao giờ có người cảm biết ấy diệt được.

Ông Chân Tín thưa: Cái nguồn cảm biết là phải do thân thể tôi, khi người chết là thân thể tan rã thân thể tan rã là cảm biết cũng diệt theo chết.

Đại Sư nói: Ông ngủ nằm chiêm bao thấy mang mọi một thân khác, cũng hoạt động ảnh suy nghĩ buồn vui, nhưng cái cảm biết trong lúc chiêm bao đó đâu phải là do nguồn gốc thân thể của ông đâu, theo nghĩa của ông nói là cái cảm biết chứ chẳng phải là cái nguồn cảm biến. Những cảm biến gốc nơi tư tưởng, còn tư tưởng tiếp nối nhau mà sanh, cũng như sợi dây loài tới. Có nhiều đoạn loài tới như thứ nhất là cái đoạn khởi nhưng mặc dầu là đoạn thứ nhất chứ nó cũng không khác gì những đoạn sau này, cái thân thể cũng giống như đoạn thứ nhất của sợi dây loài tới. Vì sao nó cũng là một tư tưởng nhưng mà là cái tư tưởng được vật chất quá, vậy nó là cái cảm biết chứ đâu phải là nguồn cảm biết. Hay nguồn cảm biết là cái bản thể gốc đã thành tựu những cái cảm biết, cũng như vật chất cũng như chắc sắp để làm ra các đoạn của sợi dây loài tới vậy, cái cảm biếc do nơi thân thể là không trường tồn, vì sao thân nào thì cảm biết đó, tư tưởng nào thì cảm biết ấy, lẻ dĩ nhiên là thân hoặc tư tưởng nào diệt thì cảm biết đó sẽ diệt theo nhưng cái nguồn diệt cảm biết là hẳn còn vĩnh viễn.

Ông Chân Tín thưa: Vậy những cảm biết trong giấc chiêm bao là do nơi đâu.

Đại Sư nói: Ấy là do những tư tưởng của ông chúng nó phối hợp với bản thể chân thật của cái ta của ông mà thành tựu một loại tư tưởng tạo một giấc chiêm bao. Nhiều lõi tư tưởng tạo nhiều giấc chiêm bao thôi, tư tưởng ngắn tạo giấc chiêm bao ngắn, tư tưởng dài tạo giấc chiêm bao dài như đời người vậy thời gian sống của một thân thể.

Ông Chân Tín thưa: Đại Sư trừ những trường hợp hoạch tử. Tại sao có người lại sống dai của người lại chết yểu.

Đại Sư đáp: Phải lấy cái tư tưởng giận hờn làm thí dụ người giận một lát rồi hết, kẻ khác giận hai tháng mới hết, thậm chí có kẻ ôm lòng dẫn đến trọn đời. Một mũi tên được bắn ra sức đi của nó hết là sẽ rớt xuống, sức đi của mỗi tên chịu ảnh hưởng của lực người bắn, tên sức sống của một thân thể cũng vậy, nó phải chịu ảnh hưởng của luật tư tưởng đã tạo ra nó,

Ông Chân Tín muốn thưa thỉnh: Về quan niệm thế giới là gì. Ông trên kính thưa nơi Đại Sư nhờ Đại Sư cho biết quan niệm của thế giới mà tôi đang sống đây.

Đại Sư nói: Ông hiểu nghĩa thế giới là sao?

Ông Chân Tín thưa: Thế giới là những cảnh vật mà tôi và muôn loài sống ở trong đó.

Đại Sư nói: Ông muốn biết rõ nguồn gốc của thế giới ông đang sống đây với mục đích nào.

Ông Chân Tín thưa: Tôi muốn biết rõ nguồn gốc của thế giới để lợi ích cho tôi và để làm sáng tỏ lợi ích tu học của mọi người.

Đại Sư nói: Mục đích đó của ông rất chân chính, như vậy người giải thích là người nghe được lợi ích cả, truy nguồn gốc của thế giới để lửa cho thân tâm mình, là phải dùng thân tâm mình làm căn bản để truy tìm. Vì sao nếu không có thân tâm mình thì cảnh giới này hoặc có hoặc không hoặc còn hoặc mất hoặc khổ hoặc vui còn dính líu gì đâu. Với mình nữa thực tế mà nói nói người chết thế giới này đã diệt. Điều còn dính líu gì đâu với mình nữa, thực tế mà nói đối với người chết thế giới này đã diệt, đối với ông thế giới này còn duy trì, đối với đứa trẻ sắp sinh thế giới này chưa thành tựu. Bây giờ đây bần tăng truy nguyên ra nguồn gốc của thế giới này đối với ông, những cảnh vật mà của thế giới đó có phải là của mắt thấy tai nghe và nhận biết của ông hay chăng.

Ông Chân Tín thưa: Chúng nó đồng sinh và đồng diệt. Đồng một nguồn gốc một nguyên nhân cũng như bóng với hình vậy, như trước tôi đã nói thân thể là gốc của một tư tưởng. Dục nhiễm sinh ra thì thế giới cũng vậy là gốc của một tư tưởng dục nhiễm mà thôi.

Ông Chân Tín thưa: Làm thế nào để chứng minh được tư tưởng là nguồn gốc của thế giới.

Đại Sư nói: Với tâm trạng vui vẻ người sẽ thấy thế giới này là nghĩa là thiên đàng bởi nó chứa những gì là đẹp đẽ vui tươi, lại với tâm trạng chán nản buồn sầu thất vọng người lại thấy thế giới này là địa ngục bởi nó chứa đầy vì xấu xa tội lỗi. Sau đây là một đoạn Kinh Duy Ma Cật: Ông Xá Lợi Phất đã thưa hỏi. Xá Lợi Phất nghĩ rằng nếu ta tâm Bồ Tát Thanh Tịnh thì cõi Phật phải thanh tịnh. Vậy Đức Thế Tôn khi trước làm bồ tát tâm chẳng được thanh tịnh sao mà coi vật này lại không thanh tịnh như thế. Phật biết ông suy nghĩ như vậy liền bảo ý người nghĩ sao mặt trời mặt trăng không sáng như người mù không thấy vậy, Bạch Thế Tôn chẳng phải thế đó là tại người mù mà thôi chứ chẳng phải lỗi ở mặt trời mặt trăng. Phật bảo Xá Lợi Phất bởi chúng sanh do tội chướng mà chúng sanh không thấy được cõi nước của Như Lai Thanh tịnh Trang Nghiêm chứ không phải lỗi ở Như Lai, này Xá Lợi Phất cõi nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại người không thấy đó thôi, bây giờ lo tới Đại Phạm Vương thưa Với ông Xá Lợi Phất gần ngài chớ nghĩ như thế mà cho là Cõi Phật đây không thanh tịnh, bởi cớ sau vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh. Ví như cung trời tự tại ông Xá Lợi Phất nói sao tôi thấy cõi này toàn là gò nổng hầm hố chông gai sỏi sạn đất đá dơ nhớp đầy dẫy như thế mà thôi . Ông lo kế Phạm Vương thưa rằng đó là do tâm của ngày có cao thấp không nương theo trí huệ của Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi. Thưa ngài Xá Lợi Phất, Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thấy điều bình đẳng không thanh tịnh, phải y theo trí huệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh. Vậy khi ấy Phật Lấy ngón tay rồi khi chân ấn xuống đất tức thì cõi tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm nghìn thứ trân Bảo Trang Nghiêm rực rỡ Như Cõi Vô Lượng Công Đức Bảo Trang Nghiêm. Tất cả ngỡ khen chưa từng có và điều thấy mình ngồi trên tòa sen báu Phật Bảo: Xá-Lợi-Phất người hãy xem cõi Phật đây Trang Nghiêm Thanh Tịnh Ông Xá Lợi Phất thưa từ trước tới giờ chưa từng thấy chưa từng nghe nay cõi nước của Phật đều hiện Trang Nghiêm Thanh tịnh, Phật bảo này Xá-Lợi-Phất, nước của ta thanh tịnh như vậy vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi này dơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên dùng một thứ bát báu để ăn nhưng tùy theo phước đức của mỗi vị mà xác cơm có khác như thế Xá-Lợi-Phất. Nếu người thấy thanh tịnh sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm thanh tịnh.

Ông Chân Tín thưa: Đối với tôi thế giới này có thân tôi nay thân tôi đã có cảnh vật của thế giới này thì phải thực sự có nhưng tại sao Đại Sư lại gọi nó không có nghĩa trước định.

Đại Sư nói: Bản thân của ông là nguyên nhân sinh ra thế giới nay thế giới đã có lẽ dĩ nhiên là nó chi phối lại bản thân ông vì vậy nên bản thân của ông nhốt luôn ở trong cảnh thế giới này, nhưng tư tưởng của ông lại không bao giờ đứng yên một chỗ buồn vui giận ghét khổ lạc v.v... Luân phiên nhau thay đổi cảnh vật bên ngoài rồi cảnh vật đó cũng biến chuyển vì lẻ cảnh vật biến chuyển dễ dàng như vậy nên Phật gọi chúng nó là giả, là tùy theo tâm tưởng mà sanh tư tưởng buồn nó làm cho cảnh vật có một trạng thái ủ rũ chẳng vui đâu và khi cái tư tưởng vui lên với người thì cảnh vật trở lại tươi đẹp đi xa hơn nữa, lực của tư tưởng mạnh có thể chuyển hẳn các tưởng của cảnh vật. Bởi thế cho nên Phật gọi cảnh giới của cảnh vật là không thật mà cũng không hư các nhà thôi miên thuật, các bậc tu hành các đấng đắc đạo đã từng cho người đời thấy sức mạnh của tư tưởng và chân lý của các cảnh vật thế giới như lời Phật nói vì tâm Phật thanh tịnh nên thế giới này được Phật thấy trang nghiêm thanh tịnh đầy báu vật. Nguyên nhân của tư tưởng là thế nào.

Ông Chân Tín thưa: Nguyên nhân có thế giới là do nơi sự có thân. Nguyên nhân do nơi sự có thân là do cái tư tưởng dục nhiễm. Vậy cái tư tưởng dục nhiễm là do nguyên nhân nào vậy.

Đại Sư nói: Nguyên nhân của tư tưởng dục nhiễm là mầm tưởng.

Ông Chân Tín thưa: Mầm tưởng là gì?

Đại Sư nói: Ấy là những cái biết của những gì mà mình đã nghe đã thấy đã truy đã làm đã ngừng nghỉ tưởng.

Ông Chân Tín thưa: Phân biệt thế nào mà biết được là mầm tưởng sinh ra tư tưởng vậy.

 Đại Sư nói: Nhiều người đồng thời nghe thấy một thứ hoạt động, nhưng mỗi người lại sinh mỗi thứ tư tưởng khác nhau. Ông nghĩ thế nào về trường hợp này.

Ông Chân Tín thưa: Ấy là tại mọi người có những nghĩ tưởng và kiến thức khác nhau.

Đại Sư nói: Những ý tưởng và kiến thức khác nhau ở nơi mỗi người mà ông nói đó là mầm tưởng, chính chúng nó sinh ra tư tưởng. Lại như vậy nữa, lúc rảnh rang vô sự an tịnh ngồi một mình ông có thấy sinh ra tư tưởng nào chăng.

Ông Chân Tín thưa: Tâm trí ít ở không lâu, được nghỉ ngơi được giây lát là phải nghỉ ngơi, được mà mình đã thấy đã nghe đã nói đã làm đã nghỉ tưởng.

Đại Sư nói: Đó là mầm tưởng sinh ra tư tưởng vậy.

Ông Chân Tín thưa: Tôi quan sát thấy tất cả mầm tưởng, ở những nơi, tôi, chúng nó là những gì của tôi đã thấy đã nghe đã nói đã làm và đã nghỉ tưởng. Ở trong đời hiện tại này mà thôi, đâu có những thứ mầm tưởng chỗ nào là ở đời trước.

Đại Sư nói: Đây là ông chưa nhận được chứ phải là không có, các Bậc thánh cùng chung sống với loài người ở trong thế gian này nhưng tại sao các Ngài lại sinh được tư tưởng siêu việt.

Vậy lại nữa, ở trong đời ác cũng có người giữ được tâm lành của họ và ngược lại nhiều trẻ được giáo dục cẩn thận. Nhưng lớn lên chúng nó vẫn làm ác như thường, đấy có phải là do ảnh hưởng của mầm tưởng đời trước chăng bởi trước cho nên nhiều người đứng trước mọi ngoại cảnh lại sinh nhiều tư tưởng khác nhau. Vì sao? Hỡi là mầm tưởng khác thì sinh tư tưởng khác, tư tưởng khác sinh kiến thức khác, vì kiến thức khác nên mạnh ai nấy sống riêng với ý tưởng của mình, Đức Giáo Chủ trưởng thành trong cảnh đầy dục lạc nhưng không mê nhiễm vẫn giải thoát được như thường, bởi lẽ Ngài là mang những tư tưởng tự giác giác tha. Trong lúc thân của đời trước trong lúc sắp tan rã, loại mầm tưởng nào có ưu thế sinh ra các tư tưởng để thành tựu thân sau đó là cái tư tưởng dục nhiễm đã sinh ra thân ông hiện nay.

BÀI VIẾT MỚI

  • Nên Thờ Cốt Vong Nhi Ở Đâu?
  • Nạo Phá Thai Và Nhân Quả - Nên Cầu Siêu Và Thờ Cúng Vong Nhi Như Thế Nào?
  • Đồng Nai: Ngày Thứ 2 Lễ Huy Kỵ Lần Thứ I Hòa Thượng thượng Giác hạ Quang.
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thích Giác Quang (Khai kinh, cúng Tiên Thường, tụng Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và Nhiễu Tháp Niệm Phật)
  • Chương Trình Lễ Huý Kỵ Hoà Thượng Ân Sư

Danh sách tin tức

  • Nên Thờ Cốt Vong Nhi Ở Đâu?
  • Nạo Phá Thai Và Nhân Quả - Nên Cầu Siêu Và Thờ Cúng Vong Nhi Như Thế Nào?
  • Đồng Nai: Ngày Thứ 2 Lễ Huy Kỵ Lần Thứ I Hòa Thượng thượng Giác hạ Quang.
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thích Giác Quang (Khai kinh, cúng Tiên Thường, tụng Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và Nhiễu Tháp Niệm Phật)
  • Chương Trình Lễ Huý Kỵ Hoà Thượng Ân Sư
  • Hành Trạng Đức Sư Ông Thượng Bửu Hạ Đức (1880 – 1974) Chứng Minh Đạo Sư Tông Phong Tịnh Độ Non Bồng
  • Gia Đình Nghèo Khó Nên Cầu Siêu Như Thế Nào Cho Tròn Đầy Ý Nghĩa?
  • Lễ Húy Kỵ cố Ni Trưởng TN Diệu Hòa.
  • Ngày thứ hai Lễ Húy kỵ Hòa Thượng Tôn sư Thiện Phước Nhựt Ý.
  • Có Phải Hộ Niệm Cho Người Sắp Lâm Chung Không Nên Rước Các Nhà Sư? Ai Là Người Hộ Niệm Tốt Nhất?
    HT Thượng Bửu hạ Đức, HT Thượng Thiện hạ Phước
    NT Thích nữ Thượng Huệ hạ Giác, HT Thích Giác Quang
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn Sư (32)
    Cái Đẹp Của Người Tu

CHƯ TÔN ĐỨC NON BỒNG

  • Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức
    Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức

    Hành trạng của Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức chứng minh đạo sư Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (1880-1974)  

    Chi tiết
  • Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước
    Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước

    Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng THIỆN hạ PHƯỚC húy NHỰT Ý, dòng LÂM TẾ thứ 41, Sáng lập và là Tông chủ môn phong pháp phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước
    Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước

    Chi tiết
  • Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành
    Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành

    Chi tiết
  • Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng
    Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng

    Chi tiết
  • Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng
    Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
    Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa
    Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa

    Tiểu sử Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Hòa húy Trung Viên trụ trì Tổ Đình Linh Sơn

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác
    Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác

    Chi tiết
  • Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.
    Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

CÁC NGÔI TỰ VIỆN NON BỒNG

  • Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh
    Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh

    Tổ Đình Linh Sơn nằm bên sườn Tây núi Dinh, ngọn núi này nằm trong dải Bao Quan. Trên bản đồ địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đỉnh Bao Quan chỉ cách Thị Xã Bà Rịa khoảng 10 km đường chim bay và nằm về phía Tây Nam của Thị xã.

    Chi tiết
  • Tổ Đình Quan Âm Tu Viện
    Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

    Quan Âm tu viện tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tu viện được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn Hóa tôn giáo công nhận là di sản văn hóa Phật giáo tỉnh Đồng Nai ngày 15/3/2016, được Ban Tôn giáo Chính phủ ra quyết định tặng Giấy khen “Có thành tích trong công tác từ thiện xã hội và góp phần bảo vệ văn hóa tôn giáo” ký ngày 02/12/2016.

    Chi tiết
  • Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.
    Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.

    Chi tiết
  • DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

LỄ HÚY KỴ LẦN THỨ 1 HT THÍCH GIÁC QUANG

CÁC WEBSITE PHẬT GIÁO

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  2. Báo Giác Ngộ 
  3. Ban Tôn Giáo Chính Phủ
  4. Đặc san Hoa Đàm
  5. Phật Giáo Tp. Biên Hoa
  6. Phật sự online
  7. Đạo Phật Ngày Nay
  8. Phật Giáo Đồng Nai

    Không có video thuộc chủ đề này.
Mừng Xuân Di Lặc 2019
Banner header
Kỷ Niệm Lễ Xuất Gia Đức Thầy (2019)
Phát quà Tại Tổ Đình Thành An Tự
Phát quà từ thiện
Phát quà cho đồng bào ở Tây Bắc
Trồng cây
Phát quà từ thiện

Footer

QUAN ÂM TU VIỆN
2567 Nguyễn Ái Quốc, phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0933045996 - 0908192876
E-mail: lientongtinhdo@gmail.com
Copyright ©