Phẩm Giáo Truyền (Phần 4)
Đức Tôn sư giáo dạy hàng môn đệ về tư tưởng "Giải thoát" phải gắn liền với các hạnh nguyện giúp đỡ hộ trì chúng sanh, phàm chúng có tình thức có nhân duyên hóa độ thì giáo hóa, không nên vì sự giải thoát riêng cho chính bản thân mình mà bỏ qua những nhân duyên có thể giáo hóa trong đời. Tất cả thiện niệm phát khởi thì không có sự bất thiện có thể xen vào.
Đức Tôn Sư dạy:
“- Này Hồng Hoa con ạ!!
Cái lý giải thoát, cái tầm giải thoát, niệm giải thoát, ý thức giải thoát, sự nghỉ ngợi giải thoát, thân tướng giải thoát, nguồn cội giải thoát, an trụ pháp môn giải thoát, hằng hữu thiện tri thức giải thoát, mối đúng cơ duyên giải thoát, cùng lý giải thoát bất khả tư bất khả nghị.
- Này Hồng Hoa con ạ!!
Trí Phật khó lường ai hiểu đặng là người Tây Phương, học Phật tu nhân là lý cùng tột rốt ráo an trụ trong cội lành, an trụ trong pháp lành, an trụ trong hành thiện.
- Vận chuyển toàn thể thâm tâm tánh mạng chung thủy cùng với bổn hạnh nguyện thệ vô lượng ức kiếp bất khả thuyết bất khả tư nghị là nguồn vui vô tận mà mẹ hằng mong muốn.
Chư Phật Như Lai, Chư vị Bồ Tát, hằng vui thích với bổn hạnh nguyện và chung thủy bất khả thuyết bất khả tư nghị.
Cái mà Chư Phật hằng mong muốn và Mẹ hằng trông đợi, vô lượng chúng sanh, bá thiên vạn ức chúng sanh trong hằng sa thế giới trong tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả chúng sanh ấy chẳng xa lìa Chư Phật, cũng như con chẳng bao giờ lìa Mẹ. Đứa con nằm trong thai mẹ không bao giờ lìa mẹ.
- Mẹ chỉ ước mong từ đời này dẫn tới hằng sa vô lượng kiếp vị lai mẹ làm con mười phương Chư Phật Như Lai, Bồ Tát vĩnh viễn trường tồn và mẹ muốn làm vui cho mười phương Chư Phật Như Lai Bồ Tát. Vô lượng ức kiếp bất khả thuyết, bất khả tư nghị chung thủy như vậy, như vậy.”
Theo “Phật học từ điển“ của Đoàn Trung Còn, thì “Giải thoát“ (Morksha) cần được hiểu như sau: Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói của nghiệp lầm. Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (Dục, Sắc, Vô Sắc). Chẳng hạn như giải thoát đối với kết (thắt, buộc), hệ phược (trói buộc). Giải thoát có các nghĩa:
– Giải thoát là niết bàn, là thể niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc (giải thoát khỏi ngũ uẩn cũng gọi là năm loại niết bàn);
– Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát khỏi vòng trói buộc, trở nên tự tại (Chẳng hạn như Tam giải thoát, Bát giải thoát, Bất tư nghị giải thoát);
– Giải thoát là một phần trong Ngũ phần pháp thân.
Chính vậy đạo Phật cũng gọi là Giải thoát đạo, Giải thoát hạnh, Giải thoát giới. Áo cà sa cũng gọi là giải thoát phục, giải thoát y. Giải thoát có hai loại:
Tính tịnh giải thoát, tức bản tính của chúng sinh vốn là thanh tịnh không có cái hướng hệ phược (trói buộc), ô nhiễm.
Chủng tận giải thoát, tức bản tính của chúng sinh nói chung là thanh tịnh, nhưng vì từ vô thượng đến nay chúng sinh luôn bị phiền não làm mê hoặc, chẳng thể hiện được bản tính của mình, vậy nên mới phải đoạn tuyệt với cái hoặc chướng ấy mà được giải thoát, tự tại. Giải thoát cũng có hai cách về sự và lý:
Về sự tức là giải thoát khỏi vòng khổ não, tai nạn đương trói buộc cái thân (chẳng hạn giải thoát khỏi địa ngục, ma quỷ, súc sinh); Giải thoát khỏi mọi pháp luật (quy luật của mọi vạn pháp).
Về lý tức là giải thoát tất cả mọi nỗi phiền não, những duyên luyến ái đã từng trói buộc cái tâm (chẳng hạn giải thoát luân hồi để đạt quả thánh: A La Hán, Bồ tát, Phật, Giác ngộ).
Như vậy, giải thoát theo triết lý Phật giáo và triết học của Đức Tôn Sư tức là trạng thái tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt“ hết mọi dục vọng, dập tắt ngọn lửa dục vọng để đạt tới cõi Niết bàn (Nirvana) với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh.
Giải thoát tức là giải thoát tất cả những mối phiền não, đối với Đức Tôn Sư chỉ rõ là từ: "Cái lý giải thoát, cái tầm, niệm, ý thức, sự nghỉ ngợi, thân tướng, nguồn cội, an trụ pháp môn giải thoát, hằng hữu thiện tri thức giải thoát, mối đúng cơ duyên giải thoát, cùng lý giải thoát bất khả tư bất khả nghị...là gồm thâu từ vi tế trong ý niệm cho đến những cử chỉ đi, đứng, động, tịnh, ngủ, nằm,.. đều phải thật là giải thoát, những dây phiền não đã trói buộc cái tâm, làm mê tâm. Khi con người ta được giải thoát cũng chính là con người ta đạt tới sự siêu thoát, nghĩa là họ vượt sự trói buộc của thế giới trần tục, thoát khỏi sự chi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não, sống hoàn toàn thanh thoát tự tại.
Giải thoát là thấu suốt lý nhân sinh để đạt tới thể “không tịch”, "Trí Phật khó lường ai hiểu đặng là người Tây Phương, học Phật tu nhân là lý cùng tột rốt ráo an trụ trong cội lành, an trụ trong pháp lành, an trụ trong hành thiện".
Song đạt tới thể không tịch không có nghĩa là trở về với cái hoàn toàn hư vô, mà thưc ra là để xóa bỏ thành kiến chấp ngã hẹp hòi bởi thế giới đang tồn tại là thế giới vô ngã, để từ đó có thể thấu đạt tư tưởng: “chư hành vô thường, vạn pháp vô ngã, hết thảy đều là không” của pháp ân. Triết lý Phật giáo cho rằng xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát là từ nỗi khổ của cuộc đời con người. Vì vậy muốn được giải thoát thì cần dập tắt mọi dục vọng, trở về với chân bản tính của mình.
Trích Thiện Phước Toàn Tập
