Ni Trưởng Thích Nữ Thượng Huệ Hạ Giác - Bổn Phận Người Phật Tử Đối Với Gia Đình
BÀI SỐ 4
BỔN PHẬN NGƯỜI PHẬT TỬ
ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH
Người Phật tử lập đức tu thân để sửa mình, trao dồi huệ mạng và tiến tu các hạnh nghiệp lành để trở thành người tốt, người lương thiện đối với bản thân, gia đình, xã hội. Ngoài ra người Phật tử phải biết nhớ tứ trọng ân, trong đó ân kính thờ phụng dưỡng cha mẹ là đầu tiên.
I. ƠN CHA MẸ:
Bổn phận người Phật tử hiếu kính phụng dưỡng cha mẹ như thế nào gọi là chí hiếu?
Người Phật tử đối với cha mẹ phải là đứa con ngoan hiền, thuận thảo, nghe lời cha mẹ dạy dỗ, không trái nghịch lòng cha mẹ mình, biết tôn kính phụng dưỡng nuôi cha mẹ, luôn luôn làm vui lòng cha mẹ thì mới đáng gọi là người con chí hiếu. Bởi thế chúng ta biết chọn con đường đạo đức hiền lành, học hỏi làm theo đạo từ bi của Đức Phật dạy, chúng ta phát lòng thương xót cứu giúp tất cả chúng sanh huống chi cha mẹ là bậc có công sinh thành dưỡng dục chúng ta được lớn khôn. Cho nên với lý do nào chúng ta cũng dám làm. Nếu biết đạo mà quên ân cha mẹ, đối với cha mẹ mình còn không thương, không kính, nhớ ơn thì đối với ai ta đâu còn biết gì, thì tội ác nào ta cũng dám làm. Nếu biết đạo mà quên ân cha mẹ, bất kính cha mẹ, thì ai dám tin mình là người đạo đức được. Người bất hiếu đã bị phá hủy tất cả công hạnh lành, đức tốt mà làm mất hạt giống phước đức cao thượng của chúng ta, bế tắt tất cả duyên lành, tạo thành vô lượng tội ác, ác nghiệp vây quanh, cho nên trong kinh Đại Phương Quảng Bất Tư Nghì Cảnh Giới, Đức Phật dạy: “Người nào biết ơn tuy còn trong sanh tử mà căn lành chẳng hư mất. Vì vậy nên các Đức Phật Thánh hằng ca ngợi những ai biết ơn và trả ơn” . Lại trong kinh Đại Phương Tiện Phật báo Ân có dạy: “Người biết ơn sẽ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, người trả ơn cũng dạy chúng sanh phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác” cũng như kinh Tăng nhứt A Hàm, Đức Thế Tôn dạy bảo các thầy Tỳ Kheo như vầy: “Nếu có người nào biết đền đáp ơn, người ấy đáng được tôn kính. Người này dù một chút ơn nhỏ cũng không quên huống là ơn lớn. Giã sử người này ở cách xa ta ngàn do tuần vẫn không phải là xa, mà là luôn gần bên ta. Vì sao thế? Vì ta hằng khen ngợi những ai biết đền đáp ân.
Những chúng sanh không biết đền đáp, ơn lớn của mình còn không nhớ, huống là ơn nhỏ thì kể gì. Những chúng sanh ấy không thể gần ta được, ta cũng không gần những người ấy. Nếu như người này mặc y đứng hầu hai bên cạnh ta, họ vẫn cách xa ta muôn trùng. Vì sao thế? Vì những người này họ đã quên lời dạy phải biết ơn và đáp ơn của ta”.
Thánh cũng nói: “Công cha mẹ sánh bằng trời đất
Nghĩa tổ thầy ví tợ núi sông”
Cho nên, ơn cha cao như non Thái, còn nghĩa mẹ rộng như biển nguồn bao la. Ơn nghĩa là nền tảng đạo đức mà chúng ta không quý trọng, thử hỏi còn gì là đạo đức. Nếu đem so sánh ơn cha nghĩa mẹ rộng lớn mà ta còn dám quên, dám phụ thì tất cả ơn khác quên đi khó gì?.
Ơn cha, nghĩa mẹ như trời cao biển cả, nếu muốn đền đáp dù nát thân ngàn mảnh cũng đáp chưa tròn. Trả hoài, trả mãi biết sao cho hết được. Nên trong kinh Tăng Nhứt A Hàm, Thế Tôn có dạy các thầy Tỳ Kheo như sau: “Có hai vị làm lành không đền ơn được. Hai vị ấy là ai? Là cha ta, là mẹ ta, Này chư vị tỳ kheo: Nếu có người lấy vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ đến ngàn muôn năm, cha mẹ ăn, uống, ngồi, nằm, bệnh hoạn cho đến đại tiểu tiện đều ở trên vai vẫn không đền được thâm ân. Này các thầy tỳ kheo, tại sao thế? Ơn nặng của cha mẹ, bồng ẫm nuôi nấng tùy thời săn sóc, không sái thời tiết, không kể tháng ngày. Vì thế, thâm ân cha mẹ rất khó đền đáp.
Ca dao có câu:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Công cha nghĩa mẹ như biển hồ lai láng. Công ơn rất nặng nề như vậy, người Phật tử chúng ta biết đạo, hiểu giáo lý sâu rộng thì chúng ta làm sao dám quên thâm ân ấy được. Cha mẹ đã tạo nên thân này, dù lấy thân lót làm sàn, làm ghế cho cha mẹ ngồi cũng chưa đủ đền đáp. Đối với bậc xuất gia, Phật còn đinh ninh dạy bảo phải nhớ ơn và đền đáp ơn cha mẹ, huống chi ta là Phật tử tại gia mà dám lãng quên sao? Tuy nhiên, ơn cha mẹ rất thâm sâu, khó đền đáp, nhưng ta một lòng chí hiếu trọn niềm, trọn tâm hiếu thảo cha mẹ mà ăn ở là cũng quý lắm rồi.
Xưa có thầy Bà La Môn hỏi Phật: “Thưa Thế Tôn, con thường như pháp đi khất thực đem về cúng dường cha mẹ, khiến lìa khổ được vui, con làm như thế có được phước nhiều chăng?” Đức Phật bảo: “Nếu có người như pháp cầu xin cúng dường cha mẹ, khiến lìa khổ được vui, thật là đại phước đức”. Thế Tôn liền nói kệ:
“Như pháp đối cha mẹ
Cung kính nên cúng dường
Hiện thời được tiếng tốt
Mạng chung sanh cõi trời”
Đây là lời Đức Thế Tôn dạy Ngài Uất Đầu Lam Phất.
Đi khất thực để cúng dường cha mẹ còn được đại phước đức như thế, huống chi chúng ta tự làm ra tiền của bằng công khó của mình thì lòng chí hiếu cúng dường cũng được thể hiện tràn đầy. Hiếu tâm, hiếu hạnh cũng là hiếu, ngoài sự hiếu thuận, hiếu thảo dâng cúng, chu cấp đủ đầy vật chất cho cha mẹ nhưng chưa đủ, cần phải khuyên cha mẹ hướng về đạo đức, quy kính Tam Bảo, như vậy mới là trọn đáp công ơn cha sanh, mẹ dưỡng.
Cho nên trong kinh Hiếu Tử đức Thế Tôn có hỏi các Thầy Sa Môn: “Con nuôi cha mẹ lấy Cam Lồ trăm vị làm thức ăn, dùng Thiên nhạc làm vui tai, sắm y phục hảo hạng mặc nơi thân, vai cõng cha mẹ đi khắp bốn phương, suốt đời phụng dưỡng như vậy đáng gọi là hiếu chăng?”
Các thầy Sa môn thưa: “Các người này là Đại Hiếu”. Đức Phật dạy: “Chưa gọi là hiếu” Phật bảo các thầy Sa Môn : “Xem người thế gian ít có kẻ hiếu thảo chỉ làm như vầy mới được gọi là hiếu: Phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, thọ Tam Quy Ngũ Giới, tu hành theo Phật. Dù cha mẹ sớm mai thọ trì giới pháp, chiều có chết, đối với ân nặng cha mẹ nuôi dưỡng, bú mớm vô lượng cũng gọi tạm đền”.
Về hạnh lành khen ngợi hiếu thảo, không biết bao nhiêu gương sáng soi chúng ta cũng cần học hỏi, hiểu biết để vừa tu tập làm theo, vừa để hướng dẫn tất cả chúng sanh đồng đi trên con đường hiếu thiện này.
Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật dạy: “Người trong thế gian ai giàu hơn hết. Ai nghèo hơn hết? Bi mẫu sống còn gọi là giàu có, bi mẫu qua đời gọi là nghèo khổ. Khi còn bi mẫu gọi mặt trời trưa, bi mẫu qua đời gọi mặt trời lặn. Khi còn bi mẫu gọi đêm trăng sáng, bi mẫu qua đời là đêm không trăng. Vậy nên các người siêng năng tu tập, hiếu thuận nuôi dưỡng hai đấng từ thân. Những người như vậy được phước ngang như phước cúng dường chư Phật, không chút hơn kém”.
Cũng trong kinh này, Phật nói về ơn cha mẹ sâu rộng không lường như sau: “Ơn cha mẹ thương con, ta ở đời này lâu, đến một kiếp nói cũng khó hết, ta nay chỉ nói một phần ít thôi. Này ông Trưởng giả: Nếu có người giàu có mời một trăm thầy Bà La Môn tịnh hạnh, một trăm vị thần tiên, một trăm người bè bạn tốt đến trong ngôi nhà này làm bằng bảy thứ ngọc báu sang trọng, rồi bày tiệc cúng dường đầy đủ trăm ngàn món ăn ngon tột bực, nơi phòng nghỉ, trau chuỗi an lạc, và dùng các giường, mùng, mền, gối bằng các thứ ngọc báu trang hoàng, lại dùng thứ thuốc bạch dược để trị bịnh, nuôi dưỡng cúng dường như thế mãn trăm ngàn kiếp mà chẳng bằng phát khởi một niệm lòng hiếu thuận, tuy dùng chút ít vật chất cúng dường cha mẹ về theo bên hầu hạ”.
Nhắc đến mẹ hiền thương con, công lao thật không biết lấy gì để so sánh cho cân xứng được. Từ khi con vào thai, trãi qua thời gian 10 tháng. Những lúc đi, đứng, ngồi, nằm mẹ chịu trăm điều khổ não mà miệng không hề thở than. Muốn những đồ uống ăn hay áo mặc dù có được mẹ cũng chẳng mừng vì lòng lo lắng không khi nào dứt, chỉ nghĩ tưởng đến đứa con sắp sanh, sao cho hoàn hảo là hơn hết. Nếu khi sanh đẻ khó thời như trăm ngàn mũi dao đâm cắt toàn thân mẹ. Nếu khi sanh đẻ được an lành, bà mẹ với các thân thuộc cùng chung vui sướng, in như kẻ nghèo dược ngọc báu. Sự đau khổ trong 10 tháng của mẹ do một tiếng khóc đầu tiên của đứa con mới lọt lòng, mà nổi khổ của người mẹ liền biến mất. Trong tâm vui sướng khi nghe tiếng khóc con như nghe âm nhạc. Con lấy nơi bụng ngực của mẹ làm chỗ ngủ, lấy hai cổ vế làm chỗ dạo chơi, và do nước giếng Cam Lồ chảy ra mà nuôi lớn. Ôi! ân đức của mẹ núi cao, biển sâu cũng chẳng thể sánh kịp. Nếu đứa con nào biết tùy thuộc nghe theo những lời dạy bảo của từ mẫu mà không trái nghịch, thời được các Chư Thiên hộ niệm phước đức vô cùng. Nếu có kẻ trai lành, gái thiện nào muốn trả ơn cha mẹ trãi qua thời gian một kiếp cứ mỗi ngày 3 lần tự cắt thịt nơi thân, đem nuôi cha mẹ cũng chưa có thể gọi là trả ơn được một ngày vậy. Kinh Nhẫn Nhục dạy: “Điều lành cao tột chẳng gì bằng hiếu, trái lại điều cực ác là bất hiếu vậy: Lấy ngọc báu cao từ dưới đất lên đến cõi trời 28 đêm đem bố thí cho người, được phước báu chẳng bắng cúng dường cha mẹ” Theo kinh Mạc La Mạt đã nói.
Phật nói: “Nương vào ơn nuôi dưỡng của từ phụ và bi mẫu cho nên tất cả các con trai gái đều được an vui. Thế nên ơn cha cao như núi, ơn mẹ sâu như bể cả” (kinh Nhẫn Nhục dạy).
Kinh Tăng Nhứt A Hàm nói: “Quả báo thảo thuận công đức cúng dường cha mẹ ngang với công đức của vị Bồ tát nhất sanh bổ xứ”. Kinh Đại Tập dạy: “Gặp đời không có Phật, nếu biết khéo phụng sự cha mẹ tức là phụng sự Phật vậy”. Thờ cúng trời, đất, quỉ, thần chẳng bằng hiếu thảo cha mẹ. Cha mẹ là hai vị thần sống cao tột bực. Trong kinh Đại Tập Bảo Tạng, Đức Phật khen ngợi công đức hiếu từ: “Chẳng những ngày nay ta mới khen ngợi hạnh từ hiếu mà trong vô lượng về trước ta đã khen ngợi nhiều rồi”.
Cho nên hàng phật tử chúng ta muốn đền đáp thâm ân, ngoài việc bảo dưỡng nuôi nấng cha mẹ được ấm no an ổn, phải cố gắng hướng cha mẹ trở lại con đường đạo pháp tu hành thì mới mong hoàn hảo thâm ân. Vị nào có phước đại nhân duyên nên cha mẹ sớm biết thúc liễm thân tâm tu hành, lại còn đem giáo pháp nhắc nhở cháu con thật là bậc Phật tại tiền đáng cho chúng ta tôn quý nghe theo. Vì vậy bổn phận làm con phải hết lòng bảo vệ, dùng nhiều phương tiện xiển dương chánh pháp để làm rạng rỡ tông môn và làm vui lòng cha mẹ.
Cha mẹ là đấng tối tôn, tối kính nhất đối với chúng ta, nên người biết thờ kính cha mẹ là thờ kính Phật, Trời, Thánh, Tiên, Thần đầy đủ, nên kinh Tam Bảo Tạng chép: “Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ngự ở trong nhà thì nên hiếu dưỡng phụng thờ, tôn kính cha mẹ, tức vua Phạm Thiên đã có, tất cả đầy đủ chư vị Phật, Thánh Hiền Tăng đều ở trong nhà.
Gia phong Đông Phương xưa nay của ông bà ta đều trọng sự hiếu thảo nên thường dạy bảo con cháu phải biết hiếu thảo, hiếu thuận cha me, ông bà.
Vậy bổn phận là hàng Phật tử tiêu biểu hiện nay, chúng ta nên tu tập hạnh lành hiếu thảo, nhớ tứ trọng ân để báo đáp là:
- Ơn Cha Mẹ
- Ơn Sư trưởng
- Ơn Quốc vương thủy thổ
- Ơn Tam Bảo
Bốn ơn sâu dày này tất cả chúng sanh đều bình đẳng cùng đội kính thờ, không bao giờ quên dược. Chúng ta còn có bổn phận nhắc nhở nhủ khuyên, sách tấn hàng con cháu nên học, nên hành, và nên đền đáp tứ trọng ân sâu dầy.
Đạo hiếu tử của người con đối với cha mẹ
Nói đến thâm ân của hai đấng từ thân kể hoài, nói mãi, trả đền biết sao cho trọn được. Nhưng nếu người con hiếu tử thì nên thương yêu cha mẹ, có hiếu thuận, hết lòng cung kính, phụng dưỡng thức ăn vật uống, mọi sự an lành để cho cha mẹ được vui, được khỏe. Ngoài ra, hướng dẫn cha mẹ kính tin Tam Bảo để biết tu hành theo Phật là cũng trọn niềm hiếu đạo với cha mẹ như lời Phật dạy, để đáp thâm ân trong muôn một.
Theo Phật giáo, trọng ân đối với cha mẹ mà còn phải gánh mang trong lòng không bao giờ phai lợt hay nghỉ bàn được, đầu đội, vai mang trong vạn kiếp khó khổ cũng không trả đền được, cho nên bổn phận làm con khi cha mẹ có la rầy, dạy dỗ ta cũng không nên buồn giận hay oán trách.
Phật nói, người con Phật có 4 thửa ruộng phước điền cao quý, nếu chúng ta biết khai thác gieo trồng, phước báu sẽ được vô lượng.
Bốn thửa ruộng phước điền là gì?
- Đấng tối tôn, tối thượng, đáng kính thờ là Đức Phật
- Chư Bồ Tát, A La Hán, Thánh chúng là Hiền Thánh Tăng là những vị cũng đáng tôn kính, cúng dường
- Là mẹ
- Là cha ta
- Chư Phật cũng ví như những đóa hoa linh thoại, cũng có thể nói như ngọc Ma Ni Bửu Châu, là ngọc quý hơn hết, rất hi hữu hiếm có, lâu lắm mới có Phật ra đời nên cũng rất khó kiếm, khó gặp.
- Nhưng đối với bà mẹ hiền, ông cha lành thì hiện hữu hằng có trong mỗi gia đình chúng ta trên thế gian này. Nếu con cháu hiểu được bổn phận mình, biết được công ơn cha mẹ sâu dày rộng lớn, khéo biết khai thác hai thửa ruộng phì nhiêu sẵn có trong nhà thì sẽ được giàu sang phú quí, của báu không thể nghỉ bàn được. Nếu thận trọng gieo trồng trên hai cơ sở phước điền cao thượng này những hạt giống tốt mầu thì sớm muộn chúng ta cũng sẽ gặt được vô lượng, vô biên quả lành cao thượng.
Hữu hạnh thay cho những ai được sanh trưởng trong một gia đình có cha lành mẹ hiền, biết tu nhân tích đức, dạy dỗ con cháu trên con đường hiếu đạo, và biết tu theo chánh pháp Phật đà. Nên xưa nói: “Cha mẹ hiền, sanh con thảo” là vậy.
Chúng ta phải hiểu biết từ ngàn xưa ai ai cũng cho rằng ơn cha mẹ là cao quí, thiêng liêng không thể lấy chi sánh được, nên nói ơn cha mẹ như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước biển nguồn để chỉ chỗ sâu rộng không thể đo lương được, nên sự đền đáp cũng không sao hết được.
Sao gọi là ơn cha thâm trọng?
Chúng ta không nên tìm hiểu xa vời. Một người cha lành bao giờ cũng dành để cho con cái tất cả cái gì quý báu nhất của mình, hi sinh tất cả cho con cái và luôn mưu cầu hạnh phúc an vui của chính mình, tức là trong sự an vui hạnh phúc cho con trẻ, dầu ở hoàn cảnh nào, giàu nghèo cha luôn luôn nghĩ đến vấn đề giáo dục cho con trở nên người tốt, người cao đẹp trong xã hội. Nếu phải tiêu xài bao nhiêu tiền của cho con ăn học, cha cũng không làm tiếc. Niềm vui sướng nhất đời khi cha thấy con ngoan hiền, được xứng đáng sánh vai trên sự học tập nghề nghiệp, cùng bạn bè được thành công mỹ mãn, được nên người tốt đẹp. Tiến lên đầy đủ đời sống an lành hạnh phúc, con lại làm tốt đạo đẹp đời là sự quý báo biết bao.
Còn về thâm ân của mẹ hiền kể sao cho xiết, từ lúc sanh mang chưa thấy mặt con, mẹ đã đặt trong lòng một tình thương vô hạn. Trong lúc cưu mang chín tháng mười ngày, mẹ giữ gìn từ chút không dám sơ hở từ cái ăn, cái ở để bảo quản cho con được an lành. Tình thương trong thai bào vẫn thương, vẫn giữ gìn, sợ thai bào tổn thương hư hại, thật công ơn ấy lấy chi đền đáp. Ôi! công ơn mẹ biển hồ lai láng là vậy…!
Khi sanh con, được nghe tiếng khóc đầu, biết con an ổn, mặc dù chịu trăm cay ngàn đắng mẹ cũng nhận chịu để con được ra đời với hạnh phúc, với tình thương chan chứa. Mẹ nuôi con bằng sữa ngọt huyết máu của mẹ cho đến lớn khôn, lắm khi thức suốt đêm trường, vì con đau bệnh không dám nhắm mắt, không được nghỉ ngơi để canh chừng ru hát cho con ngủ thẳng giấc. Con là núm ruột của mẹ, là hòn máu ngọc giữa mẹ và cha kết thành, là kho tàng quí báu hạnh phúc không bờ bến đối với mẹ. Con đau là mẹ xót, con mạnh thì mẹ vui, mất con mẹ buồn khổ, xa con mẹ lo âu. Ai biết dược nổi niềm mẫu tử tình thân. Thật là tình mẹ bao la, lòng mẹ như biển cả, không bờ bến, nếu nói hoài nói mãi kể sao cho xiết thâm ân của mẹ. Vậy muốn đền đáp ơn cha nghĩa mẹ, đạo làm con chúng ta phải hết lòng thương yêu quý mến, nghĩ như mất cha mẹ khó kiếm; tiền của, khanh tướng, công hầu, sang quý tuy khó kiếm nhưng ta thiện chí nhất tâm thì sẽ được, riêng cha mẹ mất rồi chẳng tìm kiếm đâu ra để quý kính, phụng dưỡng. Nghĩ như vậy nên lòng ta lúc nào cũng hiếu thảo trọn niềm với cha mẹ, không thấy giận buồn chi cả. Khi thấy cha mẹ sa chân lỡ bước vào đường tội lỗi phải lựa lời khéo léo thức tỉnh nhẹ nhàng, để đưa cha mẹ trở lại nếp sống an lành chơn chánh rồi biết vun bồi đạo đức cao thượng theo Phật. Trong khi nuôi dưỡng phụng thờ cha mẹ, lúc lành mạnh cũng như lúc đau ốm, săn sóc thức ngon vật lạ, lo nhà cửa cha mẹ ở an ổn là vật chất, nhưng cũng phải càng kính cẩn dâng lên cha mẹ những thức ăn tinh thần, tạo chánh nhơn lạc cảnh để cha mẹ vui nếp sống thanh cao, đạo đức. Khi cha mẹ quá vãng mới mong sanh về cõi an lành giải thoát được.
Như vậy chúng ta mới xứng đáng con cháu Đức Phật, noi truyền gương hiếu tử của Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên đưa cha mẹ ra khỏi bể khổ sông mê, sớm về bờ giác.
Chúng ta hãy lắng nghe tiếng gọi của từ bi:
“Này các con, cha mẹ là cội phúc duy nhất trên đời của các con. Các con hãy tôn trọng, vâng kính ý muốn của cha mẹ, trong lời nói, trong việc làm, trong cách đi đứng, tác phong đạo đức hàng ngày các con hãy xứng đáng giữ gìn gia phong đạo đức, tiếng tốt danh thơm cho cha mẹ còn hay mất cũng vậy.
Hãy tôn trọng gia phong tổ phụ cha mẹ mình với một niềm kính cẩn thiêng liêng cao cả. Bổn phận các con phải hết lòng giữ gìn gia phong đạo đức, làm tốt, phát huy mạnh mẽ truyền thống cao đẹp và cố tránh vô tình hay cố ý làm đều nhục nhã, xấu xa cho tông môn tổ phụ chúng ta”.
Ở phẩm hiếu đạo, lời huấn từ của Thầy Mẹ dạy như vầy:
“Thiện tai, thiện tai, muôn hạnh của chư Phật, Bồ tát, hiếu hạnh hiếu nghĩa đứng đầu trong muôn hạnh”.
Chư Phật, chư Thánh, chư Tiên, chư Thần, các vị vua Trời, các bậc đại nhân đều ca tụng cái hiếu của Phật, cái hiếu của Thánh nhân, cái hiếu của người có tu và cái hiếu của người không tu, cái hiếu của muôn vật: Hiếu tâm, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu nghĩa.
Tất cả những cái hiếu hoặc của Thánh hay phàm đều cãm động đến đất trời và cãm thông đến Tam Giới.
Phật, Thánh, Thiên, Địa, Quỉ, Thần đều hoan hỉ và xưng tán, khen ngợi, kính phục những con người đại hiếu, đều được sử lưu danh hậu thế.
Mẹ ước mong bá thiên vạn ức Phật tử Non Bồng nữ nam hồn xác đắc kỳ đại hạnh, đại nguyện, đại hiếu của Non Bồng để làm vui cho mẹ ngàn thu.
Chúng ta phải biết chư Phật, các Bồ tát và chư vị Thiên vương, các bậc thánh nhân cổ đức, tiền nhân cũng không thể xa lìa, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu tâm, hiếu nghĩa. Đó là tấm gương cao cả cho cõi đời noi theo. Bởi thế ai phạm tội bất hiếu vi trọng thì không thể lường, hay cái oan khiên quả báo xấu, oan trái trả vay cuộc đời đày đọa không thề lường được. Nên bổn phận chúng ta phải chủ tâm quan trọng về việc hiếu đạo của con người đối với cha mẹ, hiếu thảo, hiếu thuận, hiếu nghĩa vi tiên để làm vui lòng đẹp dạ cha mẹ hiện tiền cũng như lâm chung. Trong nhân gian, Đức Phật nói ít kẻ biết trọn hiếu đạo với cha mẹ nên mất đi phước báu cao thượng, không được trường thọ, không có phước hậu lâu dài, nên ít được thành công tốt đẹp trọn lành trong đời mình.
Hàng Phật tử chúng ta, tu Phật theo giáo pháp từ bi, chúng ta nên nhắc nhở khuyên hóa tất cả mọi người trên thế gian nên nhớ và biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên – “Cây có cội, nước có nguồn”. Vạn hạnh bồ tát hiếu nghĩa vi tiên. Tình mẫu tử là cao quý, nghĩa cha con là đạo trọng. Thâm ân cha mẹ là biển rộng núi cao, làm con chí hiếu trọn niềm phụng dưỡng song thân muôn đời vạn kiếp, các con nên nhớ chớ có lãng quên.
Đức tánh đầu tiên của người con hiếu thảo là kính cẩn vâng lời cha mẹ.
II. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ ĐỐI VỚI TÌNH NGHĨA ANH EM TRONG NHÀ:
Con người ta phải biết kính thờ cha mẹ, thương mến anh em, vợ chồng hòa thuận, bà con hai bên nội ngoại phải biết thương kính mến nhau, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau, đừng sanh lòng ghen ghét. Lúc giàu nghèo, lúc khó khổ phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau, không nên lẩn tiếc, luôn luôn phải có lòng hòa hiệp, cách ăn ở, nói năng thường tỏ thuận thảo, đừng nên cố ý trách móc, chống trái nghịch lòng nhau. Phải tạo mọi phương tiện thuận lợi để làm vui, làm tốt, làm hòa thuận cho khí thế gia đình được sung mãn, phước lực, phước báo hiện tiền đầy đủ. Nếu người Phật tử có tinh thần hòa khí thuận thảo như vậy tạo được niềm tin cho trong nhà an hòa, phước an lành tự nhiên hiện đến chớ chẳng phải cầu khẩn chi cả.
Người Phật tử đối với cha mẹ là đứa con hiếu thảo, thì đối với con em trong nhà phải giữ trên thuận dưới hòa, có tình thương yêu chơn thật, giúp đỡ gia đình mới được an vui êm ấm. Nếu là người anh chị phải hiền, nếu là đứa em gái, em trai phải thảo. Sống theo tinh thần đạo đức, cư xử với anh chị em tình cốt nhục cũng phải có đạo đức để tình nghĩa càng thêm gắn bó, phải nhớ câu : “Thố tử hồ bi” có nghĩa là thỏ chết chồn biết rầu, huống chi tình anh chị em trong cốt nhục tình thâm. Chúng ta phải có tình chị ngã em nâng, em khổ chị buồn, sống chết có nhau, đói no đồng hưởng, vui khổ đồng chia xẻ, đừng vì tiền của, đừng vì tất cả vật chất, đứng vì tiếng nói hoặc ý nghĩ lệch mà cắt đứt tình ruột thịt, chia rẽ nghĩa tay chân.
Đức Phật dạy chúng ta phải có lòng từ bi thương xót tất cả chúng sanh. Những nhân tốt tạo tình thương phải xuất phát đầu tiên khởi điểm từ gia đình mà có. Đối với anh em ruột thịt, chúng ta không hòa thuận thương yêu chơn thật, hay hằn học chống trái lẫn nhau, thì với người không chung máu mủ làm sao có lòng thương chân thật được, trong gia đình không tạo được tình thương yêu hòa khí lẫn nhau, thì làm sao thể hiện được tình thương yêu chân thật để làm tốt, làm đẹp xã hội? Mặc dầu anh chị em đôi khi sống chung, tánh tình có khác nhau, sự hiểu biết, sự muốn thích cũng bất đồng. Vì thế sợi dây hòa ái lắm lúc cũng bị thương tổn. Tuy vậy với tinh thần Phật tử tiêu biểu, chúng ta phải trãi hết tâm can để cư xử, đối đãi thâm tình với anh em, phải vận dụng tất cả lòng chân thành và trí sáng suốt để cảnh tỉnh nhắc nhở anh chị em trở lại hòa khí tốt đẹp cho gia đình. Tiền thân xa xưa Đức Phật còn dám hy sinh thân mạng cho cọp đói, chúng ta là tình nghĩa anh em ruột thịt lại biết tu hành theo giáo lý từ bi, biết thương người, cứu giúp muôn loài sao ta không biết hy sinh những gì cần thiết cho anh em, chị em chúng ta khi thiếu thốn, khi cần cầu. Ngoài sự giúp đỡ vật chất, nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta còn phải cố gắng hướng thiện để cho anh chị em biết quay về con đường chánh pháp học từ bi trí tuệ để tự tu, tự sửa, tự làm người tốt, tạo nguồn an ủi giải thoát cho gia đình quyến thuộc chúng ta. Muốn vậy chúng ta phải thực hiện những đức độ theo kinh Trung A Hàm. Đức Phật đã dạy như sau:
“Muốn cho tình anh em, chị em được càng ngày càng thắm thía, đậm đà phải có 4 đức độ:
1. Phải đồng chung vui khổ : Nghĩa là phải vì anh em mà quên thân mình, quên cả vợ con mà chịu đựng mọi lời phiền trách.
2. Phải hằng thương tưởng : Phải vì anh chị em khuyên dạy những điều lành, cản ngăn những điều ác, khen ngợi những điều tốt, tìm cách dứt những oán thù.
3. Về cầu lợi: Đối với anh em có những việc kín, không nên giấu lẫn nhau, được lợi cùng vui mừng, không dược lợi cũng chẳng buồn rầu trách móc.
4. Sự giúp đỡ: Biết anh chị em tiền của còn hay hết. Nếu biết hết, sẵn sàng giúp đỡ với tình thương chân thật không vụ lợi. Thấy anh em chơi bời hao phí tài của thì tìm cách khéo léo ngăn cản, có khi cũng phải có thái độ quở trách răn dạy nhưng luôn luôn cũng phải có tình thương quý kính.
Nếu người Phật tử biết tu thân lập đức sửa mình, có những hạnh lành tốt cho bản thân, đem hạnh lành tốt nhắc nhở anh chị em quyến thuộc cùng đi trên con đường thiện lành của Phật, cùng phổ biến cho tất cả chúng sanh những hạnh lành tốt để làm tốt đạo đẹp đời. Xã hội được xây dựng trên cơ bản đạo đức cha mẹ, chồng vợ, anh em, con cái. Gia đình sống tốt, làm việc tốt, có đạo đức tốt, thì Phật tử chúng ta tạo nguồn duyên phước vô lượng và cũng là người Phật tử thông suốt giáo lý chân chính của Đức Từ Bi để đem cứu khổ an vui, phổ độ quần sanh. Thật là lợi ích biết bao!
Kinh Bát Nhã Đức Phật dạy rằng: “Này các đệ tử, thường vui trụ trì pháp Thập Thiện, đối với các sinh vật thường phát khởi bi tâm, cứu vớt đau khổ, cho mọi điều vui sướng đối với cả chúng sanh”.
Lại trong Luận Đại Trượng Phu cũng có dạy: “Đem của bố thí làm cho chúng sanh mến, đem pháp bố thí thường được thế gian kính trọng. Thí của được kẻ khó mến, thí pháp được người trí trọng. Thí của phát trừ cái nghèo cùng về công đức. Hai món thí này ai chẳng kính trọng. Cho của là cho vui hiện tại, cho pháp là cho vui niết bàn tương lai. Người có lòng bi hay thương tất cả chúng sanh, mà thương chúng sanh là thương mình vậy”.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới cũng có dạy: “Trước trừ ác mình, sau dạy người trừ ác, nếu mình chẳng trừ mà dạy người trừ, đâu có lý vậy. Vậy nên Bồ tát trước phải tự bố thí, trì giới, cần hành tinh tấn, nhiên hậu mới giáo hóa người đời”.
Kinh Phật Trị Thân dạy như vầy: “Thân tâm mình đã được giáo huấn rồi, lại đem dạy người thời chẳng khó, nếu muốn dạy người, trước phải dạy mình đã”.
Cho nên hàng Phật tử chúng ta biết quy y Tam Bảo, học Phật pháp, tu tâm sửa tánh rồi thì cũng nên đem theo những lợi lành giúp đỡ cho anh chị em thân quyến thuộc của chúng ta xa gần đồng biết nương về Phật pháp tu hành để xa bờ mê, quay về bến giác. Như vậy chúng ta mới trọn câu: “Trước tu tự độ thân mình, sau lo độ tận bà con quyến thuộc, bá tánh chúng sanh mê lầm” để trọn nghĩa, trọn tình theo bổn nguyện độ sinh của chư Phật.
III. BỔN PHẬN NGƯỜI PHẬT TỬ ĐỐI XỬ NHAU TRONG TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG.
Con người khi cha mẹ sinh ra ở đời, nuôi lớn khôn cho ăn học nên nghề nghiệp, khi đến tuổi thành niên thì định đôi lứa cưới vợ gã chồng. Cha mẹ mong dựng lập gia đình cho con cái được hạnh phúc ấm êm, nghĩa là trai lớn lên phải có vợ, gái lớn lên phải có chồng. Trai gái đôi bên hòa hợp lễ cưới gọi là hôn nhân. Hai bên nam nữ mỗi người mỗi nơi nhưng được ưng thuận đôi bên trên cha mẹ, dưới con đồng ý tác hợp nên được làm lễ cưới về sống chung cùng ở một nhà để sanh con đẻ cháu nối dòng tông môn, hoặc sống chung hòa hợp làm nên sự nghiệp đem lại no ấm, an vui, sung sướng cho nhau. Cho nên về vấn đề hôn nhân chồng vợ rất là quan trọng cho đời sống con người ở đời.
Khi nên đôi bạn vợ chồng thì đôi bên cần phải có những đức tính cần thiết là đức kính mến, đức nhường nhịn với nhau. Sống chung đụng lâu ngày dù thương nhau thế mấy cũng đôi khi có những xích mắc do lời nói việc làm không hòa điệu nên cũng sanh ra bất hòa. Nhưng nếu vợ chồng muốn không tổn thương mối tình chug thủy của đôi bên thì chồng đừng ỷ thế lấn hiếp vợ, vợ không lấy quyền khinh khi chồng, phải giữ niềm thủy chung, tình nghĩa quyền lợi công bằng như cán cân không để thiên lệch. Nếu hay để chích mát thiên lệch lâu ngày sẽ bị chia rẽ, hoặc bị ly tán, những gia đình bất hạnh là vậy.
Là người Phật tử có đạo đức, phải biết tôn trọng quyền lợi thiêng liêng của đôi bên. Phải giữ ý, phòng miệng khi nói năng, làm việc gì cũng phải cẩn trọng, chồng vợ phải hòa hợp, đồng ý nhất trí, mặc dù là hai vợ chồng chứ tánh tình làm sao giống hệt nhau được, cho nên hai bên phải khéo dung hòa nhau để hòa điệu sống, hể thương nhau mến tánh tốt này của nhau, thì cũng phải can đảm chịu đựng những tánh xấu của nhau. Là người vợ hiền đừng hay than phiền trách móc đòi hỏi, là người chồng thiện, chồng tốt thì đừng trách móc chê vợ không vừa ý như mình tưởng tượng. Hạnh phúc không kiếm ra ở nơi người khác, ở nơi thần linh, mà chính do đôi bạn cùng hòa hợp thương yêu nhau, hiểu biết nhau, sống chung với lòng vị tha khoan dung của đôi bên.
Để đảm bảo hạnh phúc cao đẹp cho cuộc sống chung là do sự khôn khéo sửa đổi cho nhau, chân thành phục thiện cho nhau, dù chồng hay vợ cũng phải dẹp bỏ lòng tự ái, đừng nghĩ mình là đúng hơn hết. Sống trong cuộc đời tương đối phải hòa điệu sống, cái gì cũng phải có châm chước tha thứ cho nhau, đừng bao giờ đòi hỏi một con người hoàn thiện vừa ý mình, dù tìm khắp thế gian cũng không thể có được như ý.
Theo lời Phật dạy trong kinh Thiện Sanh: “Người chồng phải thật tình thương mến vợ, không bao giờ có tánh khinh khi, phải sắm trang sức tùy khả năng, tùy sở thích, hay làm cho vợ vui, chánh tâm trọn tin vợ là người tốt, để vợ trọn quyền sắp đặt việc nhà. Xem thân tộc bên vợ cũng như ruột thịt của mình. Người vợ cũng phải biết quý mến tôn trọng săn sóc chồng, quý trọng, nghĩ chồng là người tốt, có khả năng quán xuyến gia đạo, phải thật tâm thương quý thân tộc bên chồng. Người vợ cần phải thức khuya dậy sớm lo gia đình. Lời nói ôn hòa, hiền dịu, giúp chồng mát mẽ khi nóng nảy, an ủi chồng khi mệt nhọc, không nên bó buộc chồng quá đáng. Với niềm vui kính hoan hỉ chào mừng khi chồng đi đâu về, cần mẫn săn sóc thức ăn, chỗ ngủ, sức khỏe của chồng.
Ở kinh Thiện Sanh Tử Phật dạy: “Là người chồng tốt muốn được vợ an vui có 5 điều như sau:
- Chánh tâm kính mến
- Ý chẳng giận hờn
- Không nên ngoại tình
- Thường lo ăn mặc đầy đủ
- Thường cho trang sức tốt đẹp
Trái lại, người vợ hiền cũng có bổn phận đức độ tốt với chồng như sau:
Khéo làm việc, khéo làm nên mọi sự, vâng lời dạy bảo, dậy sớm nghỉ trễ, mọi việc phải bắc chước làm tốt, rộng đãi khách quân tử, lễ phép thưa hỏi khách quân tử, vẽ mặt hòa nhã, hiền dịu, lời nói thuận thảo, sắp đặt nhà cửa, ghế bàn, giường chiếu ngay thẳng, đồ ăn uống sạch sẽ, hay lo việc bố thí cúng dường cầu nguyện cho chồng. Những điều nề nếp này là người vợ phải có. Chồng vợ được hòa hợp, thời thiện pháp gia đình được tấn phát, những việc quấy ác không bao giờ có”.
Kinh Tăng Nhứt A Hàm dạy: “Nếu người là bậc đức độ, trinh thảo hiền lương, lanh lợi. Là bậc mẫu nghi đủ bề khôn khéo nuôi con, thì đàn con ấy quyết sẽ thành những bậc đại nhân đem lợi ích trong thế gian”.
Cho nên là vợ chồng tình nghĩa với nhau là phải xem đồng tâm hiệp ý giữ cho được hòa khí. Công việc trong ngoài tốt đẹp, gia đình giàu có, chồng hiền vợ lành, con thảo phải cần tu có đạo đức tốt, phải biết quy y Tam Bảo, hướng thiện, dắt dìu nhau bỏ ác làm lành, quy kính Tam Bảo, cúng dường Phật Pháp Tăng. Gặp khi khó khăn đồng chịu, đồng chia sớt, vợ chồng không được gây gổ, mắng chửi, phải có niềm hòa khí an lạc. Nói những lời an ủi cho chồng được vui, cho vợ được mát mẻ. Chẳng nên bàn luận chuyện xấu tốt của người để sanh ra cãi cọ đánh lộn, không nói xấu bên vợ bên chồng. Chồng vợ phải sống tương thân tương ái, là bậc mẫu mực cho con cháu noi theo, để đem lại tiếng tốt hạnh lành cho gia đình.
Như vậy mới xứng đáng là hàng Phật tử con Phật, được danh thơm tiếng tốt đồn khắp.
- BỔN PHẬN CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI:
Cha mẹ có bổn phận tạo cho con một đời sống an lành nhiều thiện duyên phước đức. Làm cha mẹ phải khéo dạy dỗ con cái từ lúc còn tuổi thơ. Cha mẹ luôn luôn lấy lượng hải hà với bổn phận thiêng liêng cao đẹp nuôi, dạy dỗ, bảo bọc con trọn tình phụ mẫu. Ngay từ lúc bé thơ, cha mẹ đã để ý đến tánh tình, khả năng đạo đức phát sinh của con mình. Thấy nó có khả năng nào, lớn lên giúp đỡ cho nó chọn theo học hỏi để trở thành những phần tử ưu tú trong gia đình, một công dân gương mẫu lợi ích trong xã hội. Nhất là phải chăm dạy uốn nắn thế nào để cho con mình được có tài, có đức thì mới tốt. Cha mẹ phải nghiêm cấm những trò chơi ác cho con như bắn chim, đá dế, bắt rầy, đá cá, đá gà, đập cào cào v.v… Cha mẹ phải hết lòng dạy rầy để con chừa tánh ác ngay lúc còn thơ ấu. Phải giảng nghĩa cho chúng biết sợ tội nên chừa, ham làm việc lành việc phước. Dạy chúng có tình thương với người bệnh tật, nghèo đói. Dạy cho con có tâm thương xót biết cứu giúp người, những việc thiện nhỏ. Kể cho con nghe những gương tích hạnh lành, đức tốt, hiếu thảo, nghĩa nhân. Dạy con biết chọn bạn lành bạn tốt nên gần gũi chơi để học hỏi, bạn xấu ác phải tránh xa. Để dẫn dắt con đi trên đường thiện, cha mẹ phải làm gương sống cuộc đời hiền lương đạo đức. Tự nhiên con cái thấy cha lành mẹ hiền tự quay hướng theo hành động thiện của cha mẹ, làm những việc của cha mẹ đã làm mà làm theo. Nếu cha mẹ xấu xa con sẽ hư hèn, trái lại cha mẹ đạo đức thì hướng con theo nẻo thiện nghiệp.
Cho nên làm bổn phận cha mẹ phải thận trọng trau dồi thân khẩu ý cho trong sạch để tránh sự bắt chước tạp nhiễm cho con cái mình về tinh thần cũng như thể xác.
1. Bổn phận thứ nhất:
Là tránh cho con khỏi sa chân vào đường ác. Phải biết gia đình là trường học đầu tiên của trẻ con. Cha mẹ là người thầy sơ khởi cho con học vỡ lòng bài học thiện ác, tốt xấu, hiếu nghĩa v.v… cho nên cha mẹ phải có tác phong như thế nào để tạo một bầu không khí đầm ấm giữa mình và các con, lương thiện và nhân đức. Phải khéo biết tận dụng tâm lý đúng đắn, đúng chỗ để cho con cái dám thổ lộ tâm tình chân thành với mình hoặc tốt hoặc xấu, để ta kịp thời giáo dục ngăn cản những việc xấu ác.
2. Bổn phận thứ hai:
Cha mẹ phải dẫn dắt con đi trên đường thiện. Lớn lên cho con đi học ở trường, thầy dạy văn chương chữ nghĩa, cha mẹ cũng một phần phụ trách dạy dỗ con siêng năng học hỏi để nên người, xứng đáng trong xã hội về mọi mặt. Cha mẹ là tấm gương sáng gần nhất để cho con chiếu soi hằng ngày. Tư tưởng, lời nói và hành động của người lớn sẽ gieo sâu trong tâm tưởng của trẻ con không thể lường được. Vậy bổn phận của cha mẹ phải quan tâm dè dặt đặt để con vào một nơi ăn ở phải an lành và trong sạch, ở nhà cũng như lúc đến trường.
Nếu cha mẹ hằng ngày làm những điều sai quấy tội lỗi, bất hòa, muốn con hòa thuận thì không thể nào được, phải nhớ câu: “Cha lành mới có con thảo”. Khi muốn dạy dỗ con cái, cha mẹ phải nhớ mình là gương mẫu. Cha mẹ có bổn phận dạy con ăn ở giản dị, nhưng không mất phẩm cách, biết phục thiện nhưng không có tánh hèn hạ lệ thuộc. Phải tạo cho con cái có tinh thần hòa hợp chặt chẽ cùng anh chị em và cha mẹ, để có mục đích cao đẹp, gầy dựng một không khí an lành vui vẻ. Phải tạo cho con có can đảm, có lòng hy sinh cao cả, có hiếu đạo tốt, và những đức độ tạo hạnh phúc chung cho gia đình. Cha mẹ phải dạy con ăn ngay ở thật, có tánh cương trực, phải tỏ ra mình xứng đáng là nơi nương tựa cho các con. Phải tập cho con sẵn sàng biết phục vụ lẽ công bình, tự tin, tự lập, hiền lành, cần kiệm tri túc, lịch sự và đạo đức.
Đó là những đức hạnh cần thiết mà cha mẹ có bổn phận phải gieo lần hồi trên thửa đất phì nhiêu của con trẻ đang sẵn sàng hứng lấy, để một ngày mai trên thửa đất này sẽ trổ sanh cây lá sum xuê, hoa quả đượm màu tươi đẹp và thơm mát.
3. Bổn phận thứ ba của của cha mẹ:
Là tạo cho con một nền giáo dục xứng đáng. Trong đời không có của báu nào quý giá bằng một nền giáo dục xứng đáng. Giáo dục là di sản quan trọng nhất, là phước lành vô cùng quý giá cao đẹp, cho nên Đức Phật nói: “Duy tuệ thị nghiệp” nên cha mẹ cần lưu tâm cho con trai hay con gái của mình có đủ thuận lợi, duyên lành để học hỏi thông suốt, hiểu biết tất cả các phương tiện pháp lành, tạo nên một nền giáo dục xứng đáng.
Phải uốn nắn con từ bé thơ trong tinh thần tôn trọng quốc gia và quý kính tôn giáo. Hạt giống tốt phải gieo lúc đất còn đương phì nhiêu màu mỡ thì sớm muộn đúng mùa tiết, cây trái sẽ sum xuê, thạnh mậu.. một nền giáo dục thích ứng phù hợp trong tuổi thiếu thời sẽ gây ảnh hưởng sâu rộng vô cùng cho cả kiếp người. Cho nên cha mẹ phải quan tâm lựa thầy chọn bạn cho con nương theo.
4. Bổn phận thứ tư của của cha mẹ:
Phải tìm nơi xứng đáng để dựng vợ gả chồng cho con. Vì hôn nhân là việc tối quan trọng có liên hệ cả một đời người, xa hơn nữa đến bao nhiêu kiếp sống, bao nhiêu thế hệ cho sự sanh con đẻ cháu sau này.
Cho nên cha mẹ cũng phải cẩn thận, nhưng cũng không khó khăn. Cha mẹ có bổn phận phải hết sức đắn đo trước khi quyết định để dựng vợ gả chồng cho con. Nếu quan niệm bất đồng giữa cha mẹ và con cái sẽ tạo ra những xáo trộn trong gia đình sau này. Cha mẹ và con phải hiểu biết lẫn nhau để kề mối thuận thảo, gây nhân tác hợp cho được an vui và hạnh phúc, để tránh những ảnh hưởng tai hại lớn lao đến con cháu mai sau. Không khó khăn về việc hôn nhân con trai con gái của mình, nhưng phải để ý tránh những hạng trai hư hèn say sưa, rượu chè cờ bạc, đắm sắc mê hoa, ăn tiêu phung phí quá độ. Nếu là con gái trắc nết, là một tánh xấu gây tội khổ đáng sợ nhất trong đời.
Con trai con gái cũng phải là sức khỏe rất cần thiết cho việc hôn nhân. Nếu vợ chồng thiếu sức khỏe, bệnh tật về mặt thể chất và tinh thần là gây nguồn tội cho con cháu sau này.
5. Điều thứ năm, bổn phận cuối cùng của cha mẹ là tình thương bình đẳng phân chia gia sản đúng lúc cho con.
Đạo làm cha mẹ chẳng những thương yêu nuôi nấng, trong nom con từ lúc nhỏ, mà còn phải lo tương lai cho con ăn học, có sự nghiệp, có đạo đức nên người, giúp đỡ hướng dẫn con tự tạo một đời sống êm ấm hạnh phúc. Cha mẹ lại còn để của cải, gia sản dành dụm cho con sau này, mỗi đứa tạo dựng được một ngôi nhà ấm cúng, một sự nghiệp tốt đẹp, một đạo đức tốt, để cho con trai, con gái được sống hạnh phúc an lành trên đường đời.
Cha mẹ phải rõ biết luân lý và đạo đức là nòng cốt để xây dựng nền giáo dục cho con trẻ, học vấn không nên tách rời đạo lý, vì cả hai đều đem tiến bộ tinh thần và tiến bộ vật chất rất là quan trọng. Mà cái quan trọng hơn hết là tận dụng hiệu năng đức dục, trí dục và thể dục vào công trình phục vụ chính cho bản thân con trẻ và xã hội sau nầy. Cha mẹ phải tránh dùng tài trí làm việc bất chánh, gian xảo, lường gạt kẻ khác để gây hạnh phúc riêng cá nhân mình, làm thất đức hạnh cho con cháu. Luôn luôn cha mẹ phải hiếu kính ông bà, những bậc tôn túc thầy tổ là người có đức độ, để nhắc nhở con cái phận làm con phải chăm chỉ học hành để được công thành danh toại và đem học lực tài đức của mình phụng sự giúp đời làm tốt xã hội mai sau.
V. BỔN PHẬN ĐỐI VỚI BẠN BÈ HIỀN HỮU:
Đã cùng sống chung cõi đời nhiều tai ách hoạn nạn này, chúng ta phải cần có bạn bè để cùng chia vui sớt buồn với nhau. Thiếu bạn bè như con chim lạc đàn, một mình bay trong bầu trời rộng cô đơn.
Song bạn bè chúng ta phải chọn người lành người tốt, lánh xa người dữ, người hư hèn, đừng làm việc chung với kẻ ác tri thức và người ngu muội mà phải giao kết với người hiền hữu, thiện tri thức. Con người vốn không phải ác, nếu gần gũi chơi với kẻ ác, về sau thành người ác, cho nên Tổ Quy-Sơn có dạy: “Thân cận thiện hữu như du lộ trung thành, tuy bất chấp y thời thời hữu nhuận” có nghĩa là gần người bạn lành như đi trong sương mốc, tuy không ướt áo nhưng cũng thắm đượm mát. Lại có câu “Hiệp tập ác giả, trưởng ác tri kiến, tức mục giao báo” (có nghĩa là chơi với người ác, tánh ác càng tăng trưởng, tức phải chịu quả báo).
Gần bạn lành chúng ta càng ngày càng tăng trưởng tánh tốt đức lành, gần bạn dữ chúng ta càng nhiễm những tánh xấu xa thấp hèn. Cho nên người xưa nói, gần bạn lành như đứng gần lò trầm hương, tuy không thơm hẳn, nhưng lâu sẽ phảng phất mùi thơm. Gần bạn ác như tay nắm cá tanh, tuy bỏ xuống rửa tay nhưng mùi tanh vẫn chưa hết. Nên người xưa cũng nói: “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là vậy. Nên việc chọn bạn để thân thiết, vấn đề này rất hệ trọng trong đời sống chúng ta đó vậy. Muốn phân biệt bạn lành hay dữ phải nương theo lời Phật dạy mới có thể biết được. Bạn lành, người gần ta chỉ vì tình thân, không vì danh vị, quyền lợi, thường ngăn ta điều xấu, khen ta điều tốt, coi sự đau khổ vui mừng của ta như của người, không vì được việc của người để ta chịu thiệt thòi, lúc nào cũng tôn trọng giá trị và quyền lợi của ta. Gần bạn dữ người ta chỉ cốt muốn lợi dụng, thường xúi giục ta làm những việc bất chánh hư hèn, quấy ác, tội lỗi. Khi có tiệc tùng, vui vẻ thì có mặt, lúc ta bị hoạn nạn đau khổ thì lánh xa ẩn khuất, luôn luôn muốn được việc của riêng họ, mà không nghĩ đến sự thiệt thòi của bạn bè. Ít nói nhân nghĩa, thiếu thiện cảm, không có lòng hy sinh cao cả, có mặt ta thì khen, vắng mặt thì nói xấu, đặt điều đặt chuyện.
Chọn được bạn lành, chúng ta phải đối xử tốt như đối xử với anh em ruột thịt. Lúc nào cũng biết kính trọng thương mến nhau, chia vui xẻ buồn, giúp đỡ đùm bọc nhau như anh em trong nhà, có được bạn lành, chúng ta thêm nhiều học hỏi lợi ích quý báu.
Kinh nói: “có bạn lành là đủ tín, giới, thí, văn, huệ” nghĩa là người bạn lành hướng dẫn chúng ta được niềm tin trong sạch, khuyên chúng ta giữ gìn giới luật trong sạch, biết ngăn ngừa tội lỗi, nhắc chúng ta nên làm việc bố thí cứu giúp người vật. Giải thích cho chúng ta nghe những điều hay, lẽ phải ta chưa được nghe, chưa được biết, chỉ vẽ cho ta tu học các pháp thanh tịnh, giải thoát an vui, để ta được sáng suốt tăng trưởng trí tuệ.
Cho nên trong Kinh Thiện Sanh Tử Phật dạy: “Nầy Thiện Sanh, làm bạn với đứa trộm có 4 điều ác:
1- Tham của người khác.
2- Cho ít mong nhiều.
3- Vì sợ mới học tập.
4- Vì lợi mới học tập.
Bạn với đứa vọng ngữ cũng có 4 điều hại:
1- Hay bày tỏ việc riêng của người.
2- Việc riêng mình giấu mất.
3- Trước mặt khen hay.
4- Sau lưng chê dở.
Bạn với người tin tà giáo cũng có 4 điều hại:
1- Họ dạy mình sát sanh.
2- Dạy mình ăn trộm.
3- Dạy mình tà dâm nói không có tội.
4- Dạy mình dối trá xảo quyệt.
Trái lại, làm bạn với người đồng tâm hiền hữu, khi khổ vui có mặt với nhau. Có 4 điều thiện lành:
1- Họ cho mình của báu.
2- Đem cho những điều lợi.
3- Cho của nhà sẵn có.
4- Cho lời nói trung thực.
Bạn với kẻ siêng năng sự nghiệp cũng có 4 điều lành:
1- Lấy lợi ích làm sự nghiệp.
2- Lấy sức mạnh làm sự nghiệp.
3- Hoặc mình có buông lung thì họ can gián.
4- Lấy điều lành, điều thiện làm sự nghiệp.
Nếu mà chơi với bạn nhơn từ cũng có 4 điều lành:
1- Được họ khuyên dạy thành tín.
2- Thành giới.
3- Thành văn.
4- Thành thí.
Lại trong kinh Quan Dự có dạy: “Bạn hiền là nền tảng của muôn phước. Đời hiện tại nầy khỏi nạn lao ngục quan vua, sau khi chết đóng bít cửa tam đồ ác đạo vậy. Có thể lên trời đắc đạo, ấy đều là nhờ sức giúp đỡ của hiền hữu vậy”.
Kinh Nhân Quả dạy: “làm bằng hữu với nhau có ba yếu tố cần thiết:
1- Thấy có lỗi lầm thời khéo dẫn dụ can gián cho nhau.
2- Thấy có việc tốt thì hết lòng vui mừng cho bạn.
3- Thấy bạn lâm nạn đang ở trong cảnh nguy, khốn cùng thời chẳng bỏ nhau.
Về kinh Đại Trang Nghiêm, Đức Phật dạy: “nếu ai gần gũi với bạn trí tuệ và hiền lành thì có thể khiến cho nội tâm và ngoại thân đều được trong sạch, thế mới gọi là bậc trượng phu chơn thiện”.
Bạn bè đối với nhau lấy chánh tâm mà kính nhau, đừng ôm lòng hờn giận, không có ý gì khác. Thân biếu nhau vật quý, ân hậu đậm đà, khiến họ về với mình. Cũng có khi quở trách những điều kiêu ngạo buông lung, che đậy việc riêng của họ. Thường cung dưỡng và đem những lời nói tận tâm và bảo cho nhau hiểu biết để tránh xa những điều tội ác, làm những việc lành. Hằng khuyên bạn bè đi trên thiện nghiệp, quy kính Tam Bảo, phụng thờ cha mẹ và làm việc lợi ích cứu giúp chúng sanh, đem lại hạnh phúc ấm êm cho gia đình. Làm những việc ích nước lợi dân, đóng góp phụng sự xã hội, việc giao tế của bạn bè, được như thế thì thiện pháp mới tăng trưởng, phước lành mới rộng lớn. Nếu tìm bạn bè khắp nơi không được vừa ý mình, thôi gắng giữ tâm ta cho trọn, không bạn với kẻ ác làm tội lỗi mà gây thêm oan trái muôn đời.
Cho nên việc chơi cùng bạn bè cũng rất là quan trọng, hàng Phật tử chúng ta: thà giữ tâm mình, còn hơn làm bạn với kẻ ác.
