Người Phụ nữ và Phật Giáo
Trong suốt quá trình phát triển của nhân loại nói chung và đất nước ta nói riêng, người phụ nữ luôn đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời. Bên cạnh việc gìn giữ, phát huy vai trò “giữ lửa” trong mỗi gia đình, phụ nữ còn tích cực học tập, lao động, sản xuất, tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động xã hội và có những đóng góp ý nghĩa
Phụ nữ khẳng định vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực hoạt động, như chính trị gia nổi tiếng, nhà lãnh đạo tài ba của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn, nhà khoa học xuất sắc, xứng đáng với danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.
Từ thuở sơ khai, địa vị của người phụ nữ đã được đề cao và coi trọng hơn hẳn so với người đàn ông, tiêu biểu là thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ. Trong xã hội này, quyền của người đàn bà được biểu hiện trước hết là quyền được phân công lao động trong gia đình và quyền điều hành những công việc chung của thị tộc. Vì thế, họ không những được bình đẳng, được tôn trọng mà còn có thể được bầu làm tộc trưởng, tù trưởng. Vì sao lại có sự tôn trọng đặc biệt dành cho người phụ nữ như vậy? Bởi vì, những đứa con được sinh ra bởi người phụ nữ; việc hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi lúc bấy giờ cũng được người phụ nữ đảm nhận; qua đó, họ nắm quyền chi phối về mọi mặt của xã hội, điều khiển công việc và điều hòa quan hệ giữa các thành viên.
Trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền: mẹ Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng; bà mẹ Gióng kiên trì nuôi đứa con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc; nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân; Đó là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà Triệu Thị Trinh, hay Bùi Thị Xuân,...trong thời kỳ chống Bắc thuộc; đó là Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế,...trong hơn 60 năm thực dân Pháp đô hộ...
Hồ Chủ tịch đã từng nói: “Giang sơn gấm vóc Việt Nam là do người phụ nữ Việt Nam, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp và rực rỡ thêm”
Nữ giới xứng đáng được tôn trọng theo quan điểm Phật giáo:
Trước hết, một đức tính nổi bật ở người phụ nữ là sự kiên trì, chịu đựng mọi khó khăn khi mang thân nữ giới. Kinh Tương ưng bộ, chương III, Tương ưng nữ nhân nêu lời Đức Phật dạy về năm đau khổ mà người phụ nữ phải gánh chịu: 1/ Lúc trẻ đến nhà chồng, không bà con, 2/ có kinh nguyệt, 3/ mang thai, 4/ sinh con, 5/ hầu hạ chồng. Đây là phát biểu về sự ghi nhận công đức, sự chịu đựng khổ nhọc và nêu lên phẩm chất của người phụ nữ đáng được tôn trọng.
Bất bình đẳng về giới tính là một nghịch lý, bất cứ người con nào khi còn nhỏ đều thương yêu cha mẹ, biết ơn cha mẹ, đặc biệt là gần gũi với mẹ; vậy mà khi lớn lên, ra ngoài xã hội, người con trai lại xem thường phụ nữ, coi khinh, kỳ thị.
Nữ giới được tôn trọng vì phụ nữ làm mẹ, công đức sinh con, nuôi dạy con, sẵn sàng hy sinh vì con. Kinh Đại tập ghi 10 điều mà người mẹ dành cho con: 1/ mang thai trong chín tháng, 2/ sinh nở đau đớn, 3/ sinh rồi quên lo, 4/ nuốt đắng nhổ ngọt, 5/ nhường khô nằm ướt, 6/ cho bú mớm, nuôi nấng, 7/ tắm rửa, chăm sóc, 8/ thương nhớ khi xa cách con, 9/ khổ đau nếu con làm ác, 10/ thương mến con trọn đời. Kinh Tương ưng ghi lời Đức Phật: “Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng sinh lang thang trong nẻo luân hồi, bỏ thân này nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần, sữa mẹ mà chúng sinh đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển.” Kinh Tâm địa quán ca ngời người mẹ như sau: “Mẹ hiền còn sống là mặt trời trưa chói sáng. Mẹ hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn. Mẹ hiền còn sống là mặt trăng sáng tỏ. Mẹ hiền mất rồi là đêm tối âm u.”
Rõ ràng hơn, Đức Phật còn xác định một số ưu thắng của nữ giới. Kinh Tương ưng bộ Tương ứng Kosala, phẩm 1, Người con gái, thuật rằng khi vua Ba-tư-nặc đăng hầu thăm Đức Phật thì có người báo tin hoàng hậu Mạt-lỵ vừa sinh một bé gái. Vua tỏ vẻ buồn rầu, Đức Phật liền dạy rằng: “Này Nhân chủ, ở đời có nhiều thiếu nữ có thể tốt hơn nam giới, họ có trí tuệ, giới đức, họ khiến nhạc mẫu thán phục, họ sinh con trai là anh hùng, là quốc chủ.” Trong Tăng chi bộ kinh IV, 278, Đức Phật đã trả lời khẳng định với Tôn giả A-nan rằng: “Phụ nữ có thể chứng ngộ giải thoát như nam giới.”
Đức Phật dạy: “Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỳ-kheo Ni đệ tử của Ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát và tự giải thoát” (Kinh Trung bộ, Đại Kinh Vacchagotta).
Ngày nay, rất nhiều phụ nữ trên thế giới cũng như ở nước ta đã nắm giữ những vai trò quan trọng trong các lĩnh vực lãnh đạo, trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, xã hội, văn hóa, nghệ thuật.v.v. nổi tiếng. Phật giáo luôn luôn ủng hộ nữ giới trong các hoạt động tu thân và cống hiến cho xã hội.
