Hòa Thượng thượng Giác hạ Quang, Thường Trực môn phong, Sách tấn hành giả an cư tại chùa Long Phước Thọ
Hôm nay chủ nhật, ngày 14/6/2020, nhằm ngày 23/4/ Canh Tý, tại trường hạ chùa Long Phước Thọ, Long Thành, Đồng Nai, Thượng Toạ Thiền chủ Thích Thiện Thảo đã cung thỉnh Hòa Thượng Giám Luật thượng Giác hạ Quang, Uỷ viên HĐTS GHPGVN, Phó Ban kiêm Trưởng Ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai, Thường Trực môn phong quang lâm về trường hạ để sách tấn chư hành giả an cư.

Trong không khí trang nghiêm hòa hợp, sau khi cung tiếp Hòa Thượng pháp sư ở phương trượng, Đại Đức Tri sự hướng dẫn Ban nghi trượng cung thỉnh Trưởng Lão Pháp Sư đăng pháp tòa.


Trước khi tuyên giảng, Đại Đức Quý Hiền báo cáo về túc số hành giả an cư tại hạ trường là 230 vị, hằng tuần đại chúng được tu học về Luật Tứ Phần, kinh Trường A Hàm, Trung A Hàm, Thiền Lâm Bảo Huấn và Thủ Lăng Nghiêm với quý Tôn đức HT. Thích Giác Toàn, Phó Chủ Tịch HĐTS GHPGVN, Viện Trưởng viện Nghiên cứu Phật học GHPGVN, Thường trực hệ phái Khất sĩ; HT. Thích Minh Nghĩa; HT. Thích Minh Tâm; HT. Thích Kiến Tánh; HT Thiền Chủ; ĐĐ. Thích Quảng Tánh; ĐĐ. Thích Nguyên Hùng... Thời khoá tu học tại trường hạ nghiêm túc, lục thời thanh tịnh dưới sự chứng minh và kiểm soát nghiêm ngặt của HT Thiền chủ cùng ban quản chúng. Đặc biệt tại hạ trường còn có thời khoá trùng tuyên Nikaya vào lúc 20h00 mỗi tối.





Sau báo cáo, ĐĐ Quý Hiền cung thỉnh Hoà Thượng pháp sư tuyên pháp thoại, Hòa Thượng tuyên giảng về các pháp sự quan trọng trong mùa an cư, luật nghi uy nghi của sa môn, việc hòa chúng, các thiện pháp cần phát huy, các pháp cần tránh trong an cư, để có thể trong thời gian an cư ba tháng sẽ có chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni hành giả có thể chứng đạo, chứng quả.
Trong Trung A Hàm, tại Phẩm Bảy Pháp, có bản kinh “Trú Độ Thọ”, Đức Phật dạy về tiến trình chứng Bốn Thánh quả của một Tỳ-kheo trong thiền định qua những ví dụ về 7 giai đoạn của cây Trú Độ, ở cõi Tam Thập Tam Thiên.
Sau đây là nguyên văn của kinh:
“Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa tại nước Xá Vệ, ở tại Thắng Lâm trong vườn Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ Phật bảo các Tỳ-kheo:
Nếu lá cây Trú độ Tam Thập Tam thiên úa vàng, lúc đó thiên chúng ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở, cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ rụng. Rồi thì lá cây ở Tam Thập Tam thiên đã rụng. Lúc đó chư Thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ mọc lại. Rồi thì lá cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã mọc lại, lúc đó chư Thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ kết ra mạng lưới. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam Thiên đã kết mạng lưới.
Lúc đó chư Thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở nụ giống như mỏ chim. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam thập Tam Thiên đã nở nụ giống như mỏ chim. Lúc đó chư Thiên ở Tam Thập Tam thiên cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở hoa giống như cái bát. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã nở hoa như cái bát. Lúc đó chư Thiên ở Tam Thập Tam thiên hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu hoa sẽ nở tròn trịa. Nếu cây Trú Độ nở hoa tròn trịa thì nó chiếu ra ánh sáng, màu sắc và tỏa ra mùi thơm trong chu vi trăm do-diên. Lúc bấy giờ vào tháng tư mùa hạ, các vị Tam Thập Tam Thiên vui đùa với năm món dục lạc cõi trời. Đó là Tam Thập Tam thiên tập trung dưới cây Trú Độ mà hưởng thọ sự hoan lạc.
Theo ý nghĩa như thế, vị Thánh đệ tử cũng vậy. Khi suy nghĩ đến việc xuất gia, lúc đó vị Thánh đệ tử như là chiếc lá úa vàng, cũng giống như lá cây Trú Độ ở cõi Tam Thập Tam thiên vàng úa.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo; lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là lá rụng, như lá cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên rụng xuống.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu và an trụ Sơ thiền; lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là sanh trở lại như lá cây ở Tam Thập Tam thiên sanh trở lại.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử giác và quán đã dứt, nội tâm tịch tịnh, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh thành tựu và an trụ Nhị thiền. Lúc đó Thánh đệ tử được gọi là sanh mạng lưới như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên sanh mạng lưới.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà bậc Thánh gọi là được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không, thành tựu an trụ Tam thiền. Lúc đó Thánh đệ tử được gọi là nở nụ như mỏ chim, cũng như cây Trú Độ ở Tam thập tam thiên nở nụ như mỏ chim.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh thành tựu an trụ Tứ thiền. Vị Thánh đệ tử lúc đó được gọi là nở hoa như cái bát vậy. cũng như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên nở hoa như cái bát.
Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử các lậu đã tận, tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ; vị ấy biết một cách như thật rằng ‘Sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa’. Lúc đó vị Thánh đệ tử được gọi là hoa nở tròn trịa, cũng giống như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên nở hoa tròn trịa. Đó là vị Tỳ-kheo lậu tận A-la-hán, được Tam Thập Tam thiên tập hội tại chánh điện Thiện pháp hỏi han khen ngợi rằng: ‘Vị Thánh đệ tử tôn quý đó, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo, các lậu đã hết, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết một cách như thật rằng, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đó là sự tập hội của các A-la-hán lậu tận, như Tam Thập Tam thiên cùng tập hội dưới cây Trú Độ vậy”.
Phật thuyết như vậy, các vị Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.”[3]
Rất rõ ràng, Đức Phật lấy ví dụ về các hiện tượng chuyển hoá của cây Trú Độ trải qua các giai đoạn: lá úa vàng, lá rụng, mọc lá, mới trổ hoa, …, gắn kết với trạng thái tâm hỷ lạc của thiên chúng ở cõi Tam Thập Tam thiên để khéo giảng về tiến trình của một vị Tỳ-kheo tu tập thiền định, tịnh hoá thân, khẩu, ý, từng bước từng bước thể nhập Chánh pháp, điều kiện để thành tựu Sơ thiền (ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc phát sanh do viễn ly), thành tựu Nhị thiền (quán đã dứt, nội tâm tịch tịnh, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh), thành tựu Tam thiền (lìa hỷ lạc, an trụ xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà bậc Thánh gọi là được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không), và thành tựu Tứ thiền (diệt lạc, diệt khổ, ưu và hỷ từ trước cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh). Tỳ-kheo trong tiến trình tu tập giới định tuệ cho đến lúc các lậu đã tận, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, trở thành Tỳ-kheo lậu tận A-la-hán, “sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa”, như cây Trú Độ nở hoa sung mãn nhất, hoa lớn như cái bát.




Sau pháp thoại, đại chúng trường hạ vô cùng hoan hỷ, pháp lạc thanh tịnh, chư hành giả phát nguyện: Y giáo phụng hành, tinh tấn tu tập để sớm hoàn thành sự nghiệp giác ngộ, giải thoát, báo phật ân đức, không cô phụ ân đức giáo hoá của Tổ Thầy.

Ban biên tập LTTĐNB
