NGUYỄN NGỌC HÒA
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
TIN TỨC»TIN TỨC

Lễ Khai Hạ Tại Tổ Đình Quan Âm Tu Viện - Biên Hòa - Đồng Nai

21/05/2019 07:53 2897

        Tại Tổ Đình Quan Âm Tu Viện trung tâm của học phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, với truyền thống hơn 60 năm tu học, trải qua 60 mùa an cư, được 22 lần Giáo Hội tổ chức an cư tại Tổ Đình, một quá trình có chiều sâu tu tập  và cũng là một sợi chỉ xuyên suốt góp phần cùng ngôi nhà chung của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển đến nay. Theo những truyền thống quý báu đó, năm nay Phật lịch 2563 - DL 2019, Tổ Đình tổ chức khóa an cư nội thiền với 65 hành giả Tỳ kheo – 16 Sa Di – 90 hành giả Tỳ Kheo Ni – 11 Thức xoa – 9 Sa di ni ở hai  phân viện Tăng và Ni.

        Pháp chế An Cư tu học, nếu được đại chúng các nơi thực hành chí thành, đúng mức, thì đó thật là nguồn năng lực lớn lao để củng cố tinh thần hòa hợp thanh tịnh của Tăng già; trưởng dưỡng tâm bồ đề ngày càng lớn mạnh, bền chắc; Đó là  thời điểm chư Tăng Ni dành trọn thời gian cho việc tu học, thúc liễm thân tâm, trau giồi Giới Định Tuệ, giúp cho sự nghiệp nhiếp hóa chúng sinh thành tựu viên mãn. Chư vị thiện nam tín nữ cũng nương nhờ uy đức rộng lớn như biển của Đại Tăng mà tâm linh thăng tiến; nhờ tu học Phật pháp mà trí tuệ phát triển; nhờ thành tâm tu hạnh bố thí cúng dường mà phước đức sâu dầy, duyên lành đối với Phật pháp sẽ kết chặt vững bền mãi mãi về sau. Đồng thời cũng là cơ hội cho hàng Phật tử tại gia phát tâm gieo trồng ruộng phước thông qua việc cúng dường, ngoại hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng Tăng an cư tu học. 

       Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma Sớ quyển 4, giải thích nghĩa chữ an cư như sau: ‘Thu nhiếp thân tâm yên tĩnh là an, thời kì phải ở lại là cư’. Bộ Luật Tư Trì Ký định nghĩa: ‘Lập tâm một chỗ gọi là Kiết; bộ Nghiệp Sớ định nghĩa: Thu thúc thân vào chỗ tịch tĩnh gọi là An’. An cư cũng có nghĩa là ‘an kỳ tâm, cư kỳ thân’, tức thân ở yên một chỗ và tâm được an lạc, thanh tịnh gọi là an cư.

1. Ý nghĩa thuật ngữ: 

     Thuật ngữ an cư tiếng Pāli: Vassa, Phạn: varṣā, dịch sang tiếng Anh là: ‘Retreat season’ nghĩa là mùa mưa. Người Trung Hoa dịch ý là vũ kì (thời kì mưa). Tiếng gọi tắt của Vũ An Cư (雨安居), (An Cư mùa mưa), còn được gọi là Hạ Hành (夏行), Tọa Hạ (坐夏), Tọa Lạp (坐臘), Hạ Lung (夏籠), Hạ Thư (夏書), Hạ Kinh (夏經), Hạ Đoạn (夏斷), Hạ (夏). Do đó mới có tên gọi Nhất Hạ Cửu Tuần (一夏九旬), Cửu Tuần Cấm Túc (九旬禁足), Kiết Chế An Cư (結制安居), Kiết Chế (結制), v.v. Bắt đầu kết chế an cư thì gọi là Kiết Hạ (結夏), khi kết thúc An Cư là Giải Hạ (解夏).

       Trong thời gian ba tháng mùa mưa ở Ấn Độ thì chư Tăng không được đi hành hóa các nơi, hơn nữa do vì trong thời gian nầy các loại cây cỏ, côn trùng phát sanh, nên để đừng sát thương các vật đó, hàng đệ tử Phật thường tập trung lại một nơi, cấm túc, đặt ra quy chế tọa Thiền tu học trong suốt ba tháng an cư.

2. Thời gian an cư: 

         Về thời gian An cư, thông thường phần nhiều lấy một hạ chín tuần (tức ba tháng) làm kì hạn. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển thượng phần 4, lấy ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày cuối cùng, ngày hôm sau là ngày Tự tứ; luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, thì lấy ngày 15 tháng 7 làm ngày Tự tứ. Về ngày tháng quy định thì tùy theo đất nước, khí hậu, để tiến hành an cư cho phù hợp.

        Theo Tạng Luật Đại Phẩm, Đức Phật quy định có hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: Tiền an cư và Hậu an cư. Tiền an cư thì nên vào nhằm ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha, Hậu an cư thì nên vào khi (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha đã trôi qua một tháng. Này các tỳ kheo, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa.”(3)

     Truyền thống Phật giáo Nguyên thủy y cứ theo lịch này nên bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà). Còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Và số mùa an cư mà một vị Tỷ kheo đã trải qua được dùng để tính hạ lạp, tức tuổi đạo. Ngoài ra còn một số quy định cụ thể về pháp an cư (như cư trú phù hợp, phòng xá,…) được ghi lại rõ trong luật tạng.

        Ngày nay, truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày rằm tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứ và giải hạ kết thúc mùa an cư. Điều này thể hiện tính linh hoạt, tùy duyên trong Phật giáo. Tùy theo thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu và điều kiện để tiến hành an cư. Thời gian có sự sai khác nhưng nội dung và ý nghĩa an cư thì giống nhau.

3. Đối tượng và trú xứ an cư: 

        Trong Trường A Hàm quyển 2 kinh Du Hành, kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 39, có ghi chép sự tích Đức Phật và các đệ tử an cư tu hành. Kinh Tăng Già La Sát Sở Tập quyển hạ, thì liệt kê tên các nơi mà Đức Phật đã ngồi hạ trong khoảng bốn mươi lăm năm. Về địa điểm mà Đức Phật, sau khi thành đạo, và các đệ tử đã cử hành an cư lần đầu tiên, thì các kinh điển nói khác nhau, tuy nhiên, thông thường phần nhiều lấy vườn Lộc Dã làm nơi an cư lần đầu tiên.

       Cứ theo luật Thập Tụng quyển 24, thì năm chúng xuất gia là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa Ma Ni, Sa Di, Sa Di Ni phải cử hành an cư, còn hai chúng tại gia Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di thì không được an cư. Lại trong năm chúng xuất gia thì Tỳ Kheo và Sa Di cùng ở một chỗ an cư tu hành; Tỳ Kheo Ni và Sa Di Ni, Thức Xoa Ma Ni cùng ở một chỗ an cư tu hành. Theo Luật tạng đại phẩm, Nhập Vũ An Cư Kiền Độ (Pāli: Vassupanàyika - kkhandhaka) văn Pāli qui định, nếu Tỳ Kheo không An cư thì sẽ mắc tội ác tác (Pāli: Dukkara, Đột-cát-la).

        Về địa điểm an cư, Luật tạng quy định, chư Tăng trong vùng phải chọn một trú xứ thích hợp để tiến hành kiết túc an cư. Trụ xứ có thể là một tu viện, tịnh xá, tịnh thất…nơi mà chư tăng đã chỉ định và tác pháp yết ma thành sự. Luật Tứ Phần quyển 37 An cư kiền độ, nêu lên các chỗ như: Dưới gốc cây, nhà nhỏ, hang núi, hốc cây, trên thuyền, làng mạc v.v..., hoặc nương nơi những người chăn bò, người ép dầu, người đốn gỗ để an cư. Luật Ngũ Phần quyển 19 An cư pháp, thì cấm chỉ không được an cư ở những nơi không có sự cứu hộ, như: Giữa bãi tha ma, chỗ không cây cối, nhà lợp bằng da thú (còn có lông), chỗ đất trống v.v... Lại trước khi An cư, phải sửa sang phòng xá, đồng thời, phân phối phòng xá và các vật cần dùng cho đại chúng một cách đồng đều.

        Thời Phật tại thế, do chư tăng du hành bốn phương hóa độ, nên cư trú an cư rất đơn giản. Do vậy, theo tập Chú giải, một nơi ở thích hợp để an cư chính là nơi ở có cửa nẻo và mái che cộng với bất kỳ chất liệu lợp mái nào trong năm loại chất liệu lợp mái cho phép những cách chuẩn bị chỗ ở không thích hợp được liệt kê trong Luật tạng bao gồm việc an cư trong một hốc cây, trên một chạc cây (giống như những thợ săn), sống ngoài trời, sống tại một nơi không phải là chỗ ở, sống trong ngôi nhà tại bãi tha ma sống dưới một chiếc lọng, hay trong chiếc bình đựng nước.

        Tập Chú giải lưu ý rằng nếu ta chọn vị trí sống trong một hốc cây hay trên một chạc cây có mái che thích hợp, tường và cửa ra vào, cũng được phép sống tại đó. Cũng coi như là ổn với một chiếc lọng nếu gắn vào bức tường được đóng đinh vào bốn chiếc cọc – có nghĩa là nếu được chế tạo tương tự như một chiếc lều bạt thì được phép an cư tại đó.

        Chỉ có một thủ tục duy nhất được đề cập đến trong Luật tạng đối với việc bắt đầu nơi An cư Mùa mưa đó là ta sửa soạn nơi an cư của mình, kiếm nước uống và nước rửa mặt, và quét dọn sạch sẽ địa điểm đó. Tuy nhiên tập Chú giải yêu cầu chúng ta thực hiện một quyết tâm chính thức đó là: sau khi kính lễ bảo tháp, v.v… ta nên đọc phát nguyện một hay hai lần câu sau đây:

“Imasmim vihāre imam te-màsam upemi” - tôi đang nhập ba tháng mùa mưa tại nơi an cư này.

        Nếu an cư tại một địa điểm không được coi như là một Tịnh xá (vihāra) – như thể trong một căn chòi trên chiếc xe ngựa – ta nên đọc lên ba lần câu này:

“Idha vassam upemi” – Ta nhập An cư Mùa mưa tại đây.

        Nếu lưu lại dưới một chiếc xe, ta chỉ cần suy nghĩ, “ta sắp sửa lưu lại tại đây để qua mùa An cư Mùa mưa.”

        Thủ tục hành pháp cũng đơn giản, chư vị Tỳ kheo chính thức xin sám hối Tam Bảo và sám hối lẫn nhau theo đúng thứ tự tuổi đạo. Sau đó chư vị xác định đường biên của vùng được chọn làm nơi an cư của đại chúng trong suốt ba tháng mùa mưa - thường bao gồm toàn bộ vùng đất của thiền viện và bằng cách thay đổi lòng quyết tâm bằng:

“Imasmim āvāse imam te-māsam vassam upemi” ta nhập An cư Mùa mưa trong ba tháng tại thiền viện này. (4)

        Điều quan trọng nhất để chọn trú xứ an cứ đó là trong trụ xứ phải có một người thông thạo giới luật, biết đọc tụng giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa và biết nghi thức sám hối, bố tát… Do vậy, tăng nên tiến hành họp trước khi bước vào mùa an cư để thỉnh Hòa thượng Y chỉ trú xứ. Hòa thượng Y chỉ trú xứ là vị Tôn túc, đạo cao đức trọng, giới hạnh trang nghiêm và thông thạo về giới luật. Vị ấy có khả năng giải đáp những vướng mắc trong Tăng chúng suốt trong mùa an cư. (hữu nghi đương vãng vấn). Lại trước khi vào An cư, phải đối trước vị Y chỉ trú xứ để bày tỏ ý kết chế An cư, gọi là đối thủ An cư; không có người nương tựa, thì trong tâm tự nói ý kết chế An cư để vào An cư, gọi là tâm niệm An cư.

        Mặt khác Tăng cũng cần kiết cương giới an cư. Đại giới nhỏ nhất là trong một già-lam. Bên Tăng kiết giới rộng nhất là 10 Câu-lô-xá, tức khoảng 18 ki-lô-mét. Nếu ở giữa là giới trường thì bên này 9 km, bên kia 9 km để Tăng ở hai bên cùng tới dự Bố-tát cho tiện. Nếu vị nào sợ đi không kịp thì phải đi sớm để kịp Bố-tát. Còn phía bên Ni, kiết đại giới là một Câu-lô-xá, tức khoảng 1,8 km, đó là đại giới lớn nhất. (5) Không được lớn hơn, nếu lớn hơn không thành cương giới nữa, bị tội.

4. Các công việc trong An Cư:

4.1 Phân công chức sự:

a) Ngôi đường chủ, hạ chủ: Trong hạ trường có hai vị là Hạ chủ và Thủ tọa:

(1) Hạ chủ (夏主): Là người lãnh đạo cao nhất về mặt tinh thần ở trường hạ.

Ở Tổ Đình Hạ chủ là Đức Thầy Tông trưởng được đại chúng suy tôn.

(2) Thủ tọa (首座): Là người lãnh đạo hành chính cao nhất trong hạ trường.

Thủ tọa là Trưởng lão Hòa Thượng Thích Giác Quang – Thường trực môn phong được đại chúng suy tôn.  

 Nếu trụ xứ không có ngôi đường chủ thì đại chúng suy cử một vị Thượng tọa lên làm Thủ tọa.

b) Duy na: Người duy trì hiệu lệnh, duyệt chúng.

c) Giảng sư (giáo thụ sư): Duy trì việc giảng dạy trong hạ trường.

d) Tri khách: Có nhiệm vụ tiếp khách của hạ trường.

e) Trực nguyệt (tuế): Lo về việc hậu cần.

f) Tri khố: Bảo quản các vật dụng của Tăng.

g) Tri tạng: Lo việc sách vở đọc tụng và kinh sách giảng dạy trong ba tháng hạ.

h) Ban hương đăng: Lo đèn hương, trang hoàng ban bệ thờ. Trước kia gọi là Thượng hạ cúng (nhưng ban này còn có thêm nhiệm vụ lo xôi chè, lễ vật).

i) Ban thư ký: Ngày trước ban thư ký được chia thành ba bộ phận: Ghi lại các thư lục của các giảng sư giảng; Ghi chép sổ sách hàng ngày của Tăng; Ghi sớ sách, yết bảng.

k) Trà thủy: Pha trà thang để cúng Phật, cúng Tổ; phục vụ trà cúng dàng chư Tăng.

l) Minh chung, thị sư: Thị giả và thỉnh chuông (chiêu, mộ).

m) Cấp thủy, tảo sái: Múc nước, lau dọn.

4.2 Ban chức sự ở Tổ Đình được tổ chức như sau:

 

BAN CHỨC SỰ KHÓA AN CƯ KIẾT HẠ
PHÂN VIỆN TĂNG QUAN ÂM TU VIỆN – PL 2563 – DL 2019

 

I. BAN CHỨC SỰ:

* PHÓ BAN TỔ CHỨC KIÊM THIỀN CHỦ - GIÁM LUẬT (PHÂN VIỆN TĂNG):
                          
HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC QUANG

* PHÓ THIỀN CHỦ: THƯỢNG TỌA THÍCH VẠN HÙNG

* CHÁNH NA: THƯỢNG TỌA THÍCH MINH TRƯỜNG

* PHÓ NA: ĐĐ THÍCH THIỆN TÂM - ĐĐ QUẢNG ĐẠI - ĐĐ ĐỊNH CHƠN

* CHÁNH CHÚNG: ĐĐ THÍCH CHƠN NGHĨA

* PHÓ CHÚNG: ĐĐ ĐỨC HÂN - ĐĐ BỬU THỊNH

* BỐ TÁT SƯ: ĐĐ THÍCH CHƠN NGHĨA - ĐĐ ĐỨC HÂN - ĐĐ TỊNH SƠN

*TỤNG NIỆM: ĐĐ ĐỨC TRUNG - ĐĐ HUỆ SƠN - ĐĐ THIỆN QUANG -ĐĐ MINH KHẢ - ĐĐ THUẬN ĐẮC - ĐĐ THIỆN HƯNG - ĐĐ PHƯỚC TRUYỀN - ĐĐ ĐỨC THIỆN - ĐĐ TÂM HIỆP - ĐĐ PHÚC HIỆP - ĐĐ PHƯỚC DUYÊN - ĐĐ ĐỊNH HẢO – ĐĐ ĐỨC NIỆM – ĐĐ TỊNH SƠN - ĐĐ THIỆN ĐỨC- SD THIỆN HẢI - SD TỪ HIẾU - TN THIỆN HẢO – BS THỜI.

* NGHI LỄ: ĐĐ TẤN MINH – ĐĐ MINH KHẢ - ĐĐ ĐỊNH CHƠN - ĐĐ MINH HUỆ

* THƯ KÝ: ĐĐ THIỆN TỪ – ĐĐ ĐỨC HẢI - ĐĐ QUÝ TRÌ.

* TRI TẠNG: ĐĐ THIỆN HUY - ĐĐ ĐỨC HẢI

*THÔNG SỰ: ĐĐ MNH HUỆ - ĐĐ PHƯỚC TUẤN - TN ĐỨC THÀNH

* XƯỚNG NGÔN: ĐĐ ĐỨC HÂN - ĐĐ ĐỨC HẢI - ĐĐ THIỆN HUY

* HƯƠNG ĐĂNG: ĐĐ THIỆN TỪ - ĐĐ THIỆN CHIẾU - TN HIẾU XUÂN (TRAI ĐƯỜNG)
-
SD TẤN THUYẾT (TRÊN LẦU) - SD THIỆN DIỆU (NHÀ CỬU HUYỀN)

* TRI CHUNG TRI CỔ: ĐĐ MINH KHẢ - ĐĐ MINH HUỆ - SD TẤN THUYẾT – SD ĐỨC HỢP

*THỊ GIẢ: ĐĐ ĐỨC HẢI - ĐĐ ĐỊNH HẢO - SD THIỆN HẢI - TN ĐỨC TRƯỜNG - TN MINH VIÊN

* TRI BỆNH: ĐĐ MINH TÀI - ĐĐ THIỆN TÀI – SD NHẬT THẮNG - TN MINH TÂM

* HÀNH ĐƯỜNG: ĐĐ THIỆN HÒA - ĐĐ ĐỨC THANH - SD NHÂN BÌNH - SD NHẬT TUỆ.

*THIẾT BỊ ĐIỆN & ÁNH SÁNG: ĐĐ PHƯỚC TUẤN - SD PHƯỚC LÝ

* ÂM THANH: CS PHÁP HẠNH - CS THIỆN ĐẠO - CS ĐỨC TRUNG

* TRANG NGHIÊM - TRẦN THIẾT: ĐĐ PHÁP THIỆN – SD THANH ĐỨC - SD ĐỨC HỢP – SD NHẬT TUỆ - TN ĐỨC THÀNH.

* TRANG NGHIÊM - VỆ SINH NỘI VIỆN: ĐĐ THIỆN CHIẾU - SD THANH ĐỨC - SD TỪ HIẾU – SD PHƯỚC HÙNG - TN THIỆN HẢO - TN HƯNG PHÚ – TN PHƯỚC LỘC – TN PHƯỚC BÌNH – TN THIỆN NGUYỆN

* BẢO TRỢ ĐẠO TRÀNG: ĐĐ THÍCH THIỆN TÂM- CƯ SĨ BỬU LIÊN, CƯ SĨ BỔN VINH, CƯ SĨ MINH TRÍ, CƯ SĨ PHÁP HẠNH, CƯ SĨ ĐỨC TÂM, CÔ NGỌC THIỆN

II. BAN GIÁO THỌ:

NI TRƯỞNG THÍCH NỮ HUỆ GIÁC – HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC QUANG -
NS TN KIM SƠN - SC TN HƯƠNG NHŨ – ĐĐ. T CHƠN NGHĨA –  ĐĐ. T THIỆN TRÍ (NGHI LỄ) - ĐĐ. T MINH THẮNG - ĐĐ. T THIỆN HUY.

III. TRẬT TỰ NỘI VIỆN

ĐĐ ĐỨC THUẦN – ĐĐ THIỆN TÀI - TN THIỆN LỘC - TN ĐỨC LƯU.

IV. BAN TUẦN CHIẾU

SD ĐỨC HỢP  – SD PHƯỚC LÝ – SD NHẬT TUỆ - SD MINH THUẬN – SD NHẬT THẮNG – SD TẤN THUYẾT – SD MINH THÔNG - TN MINH SANG - TN ĐỨC TRƯỜNG - TN ĐỒNG THÀNH - TN THIỆN LỘC - TN ĐỨC LƯU -  TN MINH TÂM - CS NGUYÊN CẨM.

V .QUÝ VỊ TRONG BAN HÀNH ĐƯỜNG

1.   ĐĐ TUẤN QUẢNG  – SD ĐỨC THIỆN - TN ĐỨC TRƯỜNG - TN AN HÒA - TN ĐỒNG THÀNH - CS NGUYÊN CẨM

2.   SD TÂM QUẢNG - SD TỪ HIẾU – SD THIỆN THẾ -TN MINH SANG - TN THANH THIỆN - CHÚ TIỂU MINH AN

3.  ĐĐ THIỆN HÒA -SD HẠNH THÔNG - TN MINH TÂM - TN THIỆN HẢO – TN ĐỨC LƯU - CHÚ TIỂU MINH ĐẠT

4.  ĐĐ ĐỨC TUẤN - SD NHÂN BÌNH - SD ĐỨC TUỆ - SD NHẬT TUỆ – SD ĐỒNG CHÁNH - TN ĐỨC THẢO.

5. Thời gian hợp lý trong mùa an cư: 

        Khi đã kiết giới an cư thì hành giả an cư phải tuân theo luật định, không được tự ý đi ra khỏi cương giới mà phải kiết túc ở yên một nơi để thực tập thiền định, thu thúc lục căn, để tăng trưởng đạo nghiệp. Nếu vị hành giả an cư nào tự ý đi ra khỏi trú xứ thì bị phạm tội phá hạ, vị đó vừa dẫn đến phạm giới và còn trở thành không đủ tư cách để nhận những ân huệ đặc biệt mà vị đó được hưởng khi kết thúc Mùa An cư.

        Tuy nhiên, có hai ngoại trừ đối với khoản luật này: đó là tiếp tục một cách hợp pháp thực hiện công chuyện trong bảy ngày và phá vỡ nơi an cư do bởi những trở lại hợp lý.

6. Xuất Giới và Phá Hạ:

6.1. Xuất giới 7 ngày:

       Trong hạ an cư, đôi khi có công việc đột xuất cần phải ra ngoài giới. Ngài Ưu Ba Li đã hỏi Phật về vấn đề này và được Phật dạy: có thể xuất giới từ 1, 2,… cho đến 7 ngày; Nếu quá 7 ngày cho đến dưới 40 ngày thì phải nương vào Tăng yết ma cho phép thì mới được.

* Những duyên sự được phép xuất giới (7 ngày):

- Việc Phật: Những công việc như làm chùa, tô tượng, đúc chuông ngày nay tạm được gọi là việc Phật.

- Việc Pháp: Đi cầu học giáo pháp trong thời gian hạ mà không thể dừng được.

- Việc Tăng: Do Tăng sai, đi làm việc cho Tăng.

- Việc sư trưởng, y chỉ sư,… ốm đau cần phải chăm sóc, thăm hỏi.

- Việc phụ mẫu: Cha mẹ ốm đau, mất; hoặc trong nhà đánh nhau cãi nhau cần phải về để khuyên giải cha mẹ quay về chính pháp.

- Đàn việt thỉnh: Ở đây nói là do đàn việt thỉnh một số vị Tăng và Tăng phái đi, chứ không phải biệt thỉnh mà bỏ việc Tăng để đi.

- Đi truyền giới, đi cầu giới (thụ giới).

- Sám hối: Hoặc là thỉnh đi trụ trì sám hối ở nơi khác; hoặc là có lỗi ở nơi khác mà cần phải đến để giải quyết đoạn nghi.

- Đi chữa bệnh.

- Đi chăm sóc người bệnh.

       Những trường hợp như vậy cần phải đi, không thể về ngay, do vậy phải ở lại cách đêm. Vì thế Phật cho phép xuất giới 7 ngày, đến ngày thứ 7 liền phải trở về.

Pháp này vốn là pháp đối thú, chỉ cần hướng đến một vị Tỷ-khưu đang an cư ở trụ xứ ấy để tác pháp liền thành tựu. Nếu không tác pháp mà đi thì phạm tội phá hạ. Nếu duyên sự xong liền phải trở về ngay, nếu còn tiếp tục ở bên ngoài giới cũng liền phạm tội phá hạ.

       Khi đối thú, vì duyên sự gì thì phải nêu rõ, nếu đúng duyên sự hợp pháp thì phải nêu rõ, nêu duyên sự không đúng pháp thì không được nhận, tức không đáp "thiện":

       Văn bạch: "Đại đức nhất tâm niệm, ngã Tỷ-khưu … kim thụ thất nhật pháp, xuất giới ngoại vị (Phật sự cố, khám bệnh cố, Tăng sự cố,…), hoàn lai thử trung an cư." (3 lần) Bạch Đại đức minh tri.  "Thiện"  "Nhĩ".  

       Nếu trường hợp trong trụ xứ không có Tỷ-khưu nào để tác pháp, thì có thể tác pháp với Sadi hoặc tịnh nhân. Nếu không có Sadi và tịnh nhân thì được phép tâm niệm.  

       Văn bạch như sau: "Tam bảo ức niệm, ngã Tỷ-khưu … kim thụ thất nhật pháp, xuất giới ngoại vị (Phật sự cố, khám bệnh cố, Tăng sự cố,…), hoàn lai thử trung an cư."Không có từ "Bạch Đại đức minh tri".

6.2. Thụ tàn dạ: 

      Nếu Tỷ-khưu đã thụ pháp 7 ngày xuất giới, nhưng công việc chưa xong, hoặc có việc phải trở lại cương giới thì được phép thụ tàn dạ xuất giới. Chỉ cần hướng đến một vị Tỷ-khưu khác tác bạch. 

 - Tàn dạ: nghĩa là đêm còn dư lại. 

       Văn bạch: X. Yết ma chỉ nam.

     Do thời hạn 7 ngày không đủ để giải quyết các duyên sự nói trên. Nếu cứ phải trở lại cương giới rồi xin phép đi thì mất nhiều thời gian đi lại. Do vậy Phật cho phép thụ quá 7 ngày cho đến 15 ngày, cho đến 1 tháng ra khỏi giới. Song trường hợp này phải bạch nhị yết ma để tác pháp, tác tiền phương tiện như thường đã làm.

      Vị Tỷ-khưu ra trước Tăng trình bày duyên sự và thời hạn xin ra khỏi giới. Tăng thấy đó là việc thích hợp thì bạch nhị yết ma cho phép. 

      "Bạch đại đức Tăng lắng nghe, con Tỷ-khưu … xin khất ra khỏi giới 15 ngày,…" 

         Đáp yết ma: "Yết ma cho ra khỏi giới quá bảy ngày".

* Lưu ý:

- Khất quá bảy ngày, khi đi đến bao nhiêu ngày thì phải nói số ngày đi rõ ràng.

- Pháp yết ma thụ nhật chỉ có Tăng mới được phép, còn Ni không được đi quá 7 ngày; và đối với Tỷ-khưu Ni cũng không được phép tâm niệm an cư và tâm niệm xuất giới.

6.3. Phá hạ:

Phá hạ là vi phạm các điều thuộc quy chế an cư theo luật định. Chủ yếu của sự phá hạ là rời khỏi trụ xứ an cư.

* Có hai trường hợp: Phá hạ hợp pháp và phá hạ bất hợp pháp.

- Phá hạ không hợp pháp là chỉ cho việc tự mình bước ra khỏi cương giới an cư mà không có duyên sự, hoặc duyên sự không chính đáng, hoặc không tác pháp, hoặc tác pháp không đúng. Trường hợp này gọi là phá hạ, vừa mất tuổi đạo, vừa có tội.

- Trường hợp phá hạ hợp pháp do những tai nạn bất ngờ xảy đến, hoặc khi thụ nhận xuất giới đã hết thời hạn nhưng do các tai nạn không thể trở về trụ xứ an cư kịp thời hạn. Trong trường hợp này thì chỉ bị mất tuổi đạo nhưng không phải cử tội.

Nếu vì các nạn duyên (nạn vua quan, nạn thú dữ,…) mà phải đi nếu không về được thì có thể nương vào một trụ xứ khác để an cư thì không phạm tội phá hạ.

Nếu có những tai nạn bắt buộc phải rời khỏi trụ xứ an cư thì được phép di chuyển đến một trụ xứ khác để tiếp tục an cư. Nếu trong thời hạn 7 ngày mà không tìm được một trụ xứ an cư nào khác thì gọi là phá hạ hợp pháp.

Đi Công Chuyện Trong Bảy Ngày: Trong thời gian An cư, cấm chỉ không được ra ngoài vùng cương giới đã quy định, nếu người nào không tuân qui định ấy thì mắc tội ác tác. Tuy nhiên, cứ theo luật Tứ Phần quyển 37, thì nếu người nào có thể trở về ngay trong ngày thì được phép ra ngoài; hoặc có việc đặc biệt cần thiết, được Tăng đoàn thừa nhận, thì có thể được phép ra ngoài trong vòng bảy ngày, mười lăm ngày, phương pháp này gọi là Thất Nhật Pháp, Thụ Nhật Pháp.

Theo các thuật ngữ của tập Chú giải, điều này có nghĩa là ta có thể ra khỏi nơi an cư trong vòng sáu buổi sáng và phải trở về để đón chào bình minh thứ bảy ngay tại nơi An cư. Nếu người nào vi phạm qui định này mà ra ngoài, thì đắc tội ác tác, gọi là phá An cư, phá hạ, sẽ mất tư cách tiếp nhận các vật cúng dường An cư được phân phối. Nhưng, nếu vì các chướng nạn như: Chạy tránh ác thú, rắn độc, hỏa hoạn, nước dâng, vua bắt, giặc đuổi, trúng thực, nữ nhân, thân tộc v.v..., hoặc vì sự hóa giải việc phá tăng mà rời khỏi nơi An cư, thì không phải tội. 

7. Tự Tứ: (Xem bài chi tiết: Pháp tự tứ trong an cư)

Để kết thúc An cư, một trong các phận sự của Tăng phải được tiến hành đó là Tự tứ. Đây là pháp yết-ma cầu thỉnh ba việc: thấy, nghe, nghi; tức là thỉnh cầu bạn đồng tu nói lên những lỗi lầm của mình dựa trên ba trường hợp: thấy, nghe và nghi trong suốt thời gian ba tháng. Tự tứ là bổn phận của Tăng, nó có ý nghĩa như thuyết giới, đó là biểu hiện tính thanh tịnh và hòa hợp của Tăng, tuy nhiên ở tầm mức cao hơn. Người được thỉnh cầu sẽ nói lên những lỗi lầm của người thỉnh cầu trong tinh thần xây dựng; đó là thể hiện tính hòa hợp. Người được chỉ lỗi sẽ y theo pháp mà sám hối, đó là thể hiện tính thanh tịnh.    

8.  Sau Tự Tứ:

Theo nguyên tắc thì hạ an cư phải đủ 90 ngày, mặc dù đã tự tứ nhưng vẫn ở trong kỳ hạn an cư, vì vậy phải ở lại trong cương giới cho đến khi hết kỳ hạn minh tướng xuất của ngày 17/7 (hoặc 17/8 đối với hậu an cư). Nếu muốn rời khỏi cương giới, vẫn phải làm pháp thụ nhận, nếu không vẫn mắc tội phá hạ. Trong văn bạch của pháp thụ nhận chỉ trừ câu "hoàn lai thử trung an cư."

Sau khi tự tứ xong, Tăng có 4 việc cần làm sau đây:

a) Phân chia lợi dưỡng:

Lợi dưỡng trong an cư là lợi dưỡng hợp pháp, chỉ được phân chia sau khi đã tự tứ xong. Đây là phần thưởng tưởng công đức của an cư. Theo quy định của Luật, lợi dưỡng an cư không được phân chia trước. Bởi vì:

- Phòng để thời gian không có người cúng còn có cái dùng;

- Nếu chia trước mà vị nào không được tự tứ thì phạm tội.

Các Tỷ-khưu phá hạ không được quyền hưởng lợi dưỡng bình đẳng như các Tỷ-khưu khác, các Sa di tập sự được hưởng lợi dưỡng bằng một nửa (Sadi bán phận Tỷ-khưu, hình đồng bán phận Sadi).

Khi chia lợi dưỡng, Tăng tác pháp yết ma sai nhân để chia. Trường hợp có 4 người thì không yết ma sai nhân mà cả 4 người cùng chia; nếu vật phẩm khác nhau không chia đều được thì phải bốc thăm.

b). Lễ vu lan (đối với tiền an cư):

Theo trong kinh Vu lan có nói là sắm trái cây năm màu, đồ ăn trăm món. Có thể hiểu đó là biểu trưng cho bách pháp và 5 vị.

c) Thụ công đức y:

Theo Luật, Công đức y chỉ được nhận sau an cư (sau tự tứ); Trong luật có trường hợp do có người cần kíp nên muốn cúng y gấp (trước tự tứ) để đi công việc, nên Đức Phật khai cho được nhận y trước 10 ngày, và thời gian nhận kéo dài không quá 1 tháng sau an cư.

d) Kết, giải giới:

- Tuyên bố giải chế: các phép tắc an cư không còn áp dụng.

- Giải chức sự: các chức sự trong an cư sẽ giải hết.

- Giải cương giới an cư: một số cương giới không còn phù hợp sau an cư (ví dụ giới tịnh địa có thể thu nhỏ lại,…).

9. Ý nghĩa: 

       Chế pháp an cư thứ nhất cũng để chư vị Tỷ kheo tránh giẫm đạp lên cây cối và côn trùng trong ba tháng mùa mưa, nhằm thực hiện sự tôn trọng và bảo vệ sinh mạng các loài động vật; thứ hai tránh sự cơ hiềm của thế gian và ngoại đạo.

      Tuy nhiên đức Phật đã quan tâm nhiều hơn với những thái độ sống, chứ không câu nệ vào hình thức. Tức quy chế an cư nhằm tạo ra cơ hội tốt để chư vị Tỷ kheo tập trung vào sự tu tập trau dồi giới định tuệ, làm tấn tu đạo nghiệp hướng tới sự giác ngộ giải thoát. Do đó, thiết lập pháp an cư không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân Tăng mà còn làm tăng trưởng niềm tin vào Tam bảo của chúng Phật tử tại gia. Ban hành pháp An cư là nhằm mục đích duy trì truyền thống chư Phật trong quá khứ.Thành ra, mùa an cư đã trở nên quan trọng và ý nghĩa đối với tứ chúng đệ tử Phật.(6)

       Như vậy dù kiết Hạ hay kiết Đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ kheo hay Tỳ kheo Ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắt khe này cũng chỉ vì Đức Phật muốn bảo hộ sức sống của Tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân.

       Nếu ai trong hàng xuất gia đệ tử Phật không tôn kính vâng giữ lời huấn thị của Đức Phật, xem an cư là một điều bó buộc, một phương tiện nhỏ nhặt thì quả thật người ấy không những tự chối bỏ phần tự lợi mà gây ảnh hưởng không tốt cho Tăng đoàn. Cũng như người nông phu mỗi năm phải làm ruộng, nếu năm nào bỏ bê không chăm lo đến mùa màng thì người nông phu sẽ bị nghèo nàn đói thiếu.     

       Hàng xuất gia nếu không có những ngày tháng cùng sinh hoạt cộng trú để sách tấn lẫn nhau thì làm sao có điều kiện để tạo thành năng lực hòa hợp và kiểm chứng giá trị thanh tịnh? Kết thúc khóa an cư là lễ Tự tứ, một hình thức tối quan trọng để tổng kết quá trình tu tập tiến triển hay lui sụt của từng cá nhân qua ba tiêu chuẩn: thấy, nghe, nghi. Những ai vượt ra khỏi phạm vi giới luật, buông lung theo ba nghiệp, hành động theo bản năng cố hữu thì sẽ bị cử tội giữa đại chúng để bổ khuyết sửa chữa.

       Là Phật tử tại gia , việc cúng dường hộ Chư Tăng , Chư Ni nhân mùa An cư Kiết hạ để tu tập cũng là bổn phận của Phật tử, nhằm tu tạo phước điền , hộ trì Chánh Pháp .

Một số hình ảnh lại lễ khai hạ Đối thú an cư:

Ghi chú:

  1. G. P. Malalasekera, M. A. Ph. D.  Founder Editor-in Chief, Encyclopaedia Of Buddhism, vol. 8, Sri Lanka: Published by the Department of Buddhist Affairs, Ministry of Buddhasasana, 1962, p. 497.
  2. Third khandhaka. (residence during the rainy season, vassa.) http: //www.sacredtexts.com/bud/sbe13/sbe1314.htm, (09.06.2016.)
  3. Hermann Oldenberg (ed), Vinaya Pitakam, The principal Buddhist holy scriptures in the Pali Languege, vol.1, Mahavagga, the Pali text society Oxford, 1997, p. 137.
  4. Xem, An Cư Kiết Hạ, Tỳ khưu Thānissaro do Tỳ khưu Thiện Minh phiên dịch, http://www.phatgiaonguyenthuy.com/news-3753/AN-Cu-KIeT-Ha.html.
  5. HT. Thích Thiện Siêu, Cương Yếu Giới Luật, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo – 2002.
  6. G. P. Malalasekera, M. A. Ph. D.  Founder Editor-in Chief, Encyclopaedia of Buddhism, vol. 8, Sri Lanka, Published by the Department of Buddhist Affairs, Ministry of Buddhasasana, 1962, p. 497.

BAN BIÊN TẬP LTTĐNB.

 

BÀI VIẾT MỚI

  • Diễn Văn Phật Đản Pl.2570 - Dl.2026
  • Thông Điệp Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2570
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026
  • Chương Trình Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thượng Giác Hạ Quang
  • Lễ Họp Mặt Truyền Thống Đầu Năm Tông Phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

Danh sách tin tức

  • Diễn Văn Phật Đản Pl.2570 - Dl.2026
  • Thông Điệp Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2570
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026
  • Chương Trình Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thượng Giác Hạ Quang
  • Lễ Họp Mặt Truyền Thống Đầu Năm Tông Phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • Ban Thường Trực BTS GHPGVN Tỉnh Đồng Nai thăm và Khánh Tuế Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Thảo
  • Lễ Huý Kỵ Lần Thứ 49 Đức Sư Ông Thượng Bửu Hạ Đức
  • Long Sơn Cổ Tự: Trang Nghiêm Lễ Tưởng Niệm Húy Kỵ Lần Thứ 30 Cố Hòa Thượng Thích Huệ Tâm
  • HCM: Tưởng niệm Hòa Thượng Thích Thiện Trung - trụ trì chùa Pháp An (Bình Dương).
  • Đồng Nai: Trang nghiêm lễ hoa đăng mừng khánh đản Đức Phật A Di Đà tại chùa Long Phước Thọ
    HT Thượng Bửu hạ Đức, HT Thượng Thiện hạ Phước
    NT Thích nữ Thượng Huệ hạ Giác, HT Thích Giác Quang
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn Sư (32)
    Cái Đẹp Của Người Tu

CHƯ TÔN ĐỨC NON BỒNG

  • Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức
    Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức

    Hành trạng của Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức chứng minh đạo sư Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (1880-1974)  

    Chi tiết
  • Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước
    Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước

    Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng THIỆN hạ PHƯỚC húy NHỰT Ý, dòng LÂM TẾ thứ 41, Sáng lập và là Tông chủ môn phong pháp phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước
    Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước

    Chi tiết
  • Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành
    Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành

    Chi tiết
  • Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng
    Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng

    Chi tiết
  • Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng
    Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
    Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa
    Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa

    Tiểu sử Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Hòa húy Trung Viên trụ trì Tổ Đình Linh Sơn

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác
    Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác

    Chi tiết
  • Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.
    Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

CÁC NGÔI TỰ VIỆN NON BỒNG

  • Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh
    Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh

    Tổ Đình Linh Sơn nằm bên sườn Tây núi Dinh, ngọn núi này nằm trong dải Bao Quan. Trên bản đồ địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đỉnh Bao Quan chỉ cách Thị Xã Bà Rịa khoảng 10 km đường chim bay và nằm về phía Tây Nam của Thị xã.

    Chi tiết
  • Tổ Đình Quan Âm Tu Viện
    Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

    Quan Âm tu viện tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tu viện được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn Hóa tôn giáo công nhận là di sản văn hóa Phật giáo tỉnh Đồng Nai ngày 15/3/2016, được Ban Tôn giáo Chính phủ ra quyết định tặng Giấy khen “Có thành tích trong công tác từ thiện xã hội và góp phần bảo vệ văn hóa tôn giáo” ký ngày 02/12/2016.

    Chi tiết
  • Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.
    Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.

    Chi tiết
  • DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2570 - DL 2026

CÁC WEBSITE PHẬT GIÁO

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  2. Báo Giác Ngộ 
  3. Ban Tôn Giáo Chính Phủ
  4. Đặc san Hoa Đàm
  5. Phật Giáo Tp. Biên Hoa
  6. Phật sự online
  7. Đạo Phật Ngày Nay
  8. Phật Giáo Đồng Nai

    Không có video thuộc chủ đề này.
Mừng Xuân Di Lặc 2019
Banner header
Kỷ Niệm Lễ Xuất Gia Đức Thầy (2019)
Phát quà Tại Tổ Đình Thành An Tự
Phát quà từ thiện
Phát quà cho đồng bào ở Tây Bắc
Trồng cây
Phát quà từ thiện

Footer

QUAN ÂM TU VIỆN
2567 Nguyễn Ái Quốc, phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0933045996 - 0908192876
E-mail: lientongtinhdo@gmail.com
Copyright ©