Bồ tát luôn đồng hành và lấy nỗi khổ chúng sanh làm hàng đầu.
Chính vì vậy, Bồ tát không thể nào khởi tâm tham dục, sân hận hay ác hại đối với chúng sanh. Tinh thần căn bản của Bồ tát “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”, trên cầ̀u xin giáo pháp của chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, tùy theo căn cơ, hoàn cảnh mà “Tuỳ duyên bất biến” lăn xả vào đời dùng mọi phương tiện đưa chúng sanh đến chỗ cứu cánh giác ngộ. Như Bồ tát Địa Tạng, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Phổ Hiền, Văn Thù… mang dáng dấp hiền hoà, khả kính như những người mẹ nhân từ rộng lượng, luôn hiện thân ở những nơi khổ đau phiền muộn, đôi khi lại được thể hiện qua hình dáng của người cha nghiêm cẩn và cương nghị. Hình tượng các vị Bồ tát đã trở thành những điểm tựa tâm linh kỳ diệu cho những chúng sanh yếu đuối đang chơ vơ, lạc lõng giữa trường đời mộng ảo, đang tuyệt vọng giữa bao nỗi oan khiên, ngang trái của cuộc đời hay những lúc đối diện với nghịch cảnh trong cuộc sống.. Vì thế, đối với dòng thác loạn của xã hội hôm nay trách nhiệm của hàng xuất gia phải làm gì để đem lại sự thanh bình và hạnh phúc cho nhân loại? Đây là vấn đề cần thiết đối với đời sống của tu sĩ. Đời sống của một tu sĩ̃ luôn luôn hướng đến hai mục đích : tự độ và độ tha. Muốn thực hiện hạnh nguyện độ tha đều không ngoài thực hành Bồ tát đạo.
Hành giả đang đi trên con đường Bồ tát, nếu chúng ta vì khát ngưỡng mà không thể lập lời đại nguyện thì người đó không phải là Bồ tát.. Do đó hành giả cần phải tu 6 điều mục thực tiễn “Đem ân huệ cho người, gìn giữ nguyên vẹn giới luật của giáo đoàn, nhẫn nại toàn vẹn, nỗ lực hết mình, chú tâm vào một đối tượng nhất định, luôn luôn làm sáng tâm địa”. Trong đó điều mục đem ân huệ cho người tức là bố thí. Bố thí có bố thí nội tài và bố thí ngoại tài. Về bố thí nội tài tức là vì pháp quên mình. Cái gương quên mình cầu pháp đã được Cao Tăng Pháp Hiển thực hành và ghi lại :”Lặn lội nguy nan không tiếc thân mạng là vì chí tôi có mục đích. Nên tôi nhất mực đi tới, gieo mình vào chỗ chắc chết để mong đạt tới muôn một của chính mình. Do vậy mà được cảm thán, cho rằng xưa nay ít có, rằng từ khi dòng nước pháp hoá chảy qua Trung Hoa đến giờ, chưa có ai quên mình cầu pháp như vậy. Thế mới hay lòng thành cảm ứng thì không có sự cùng đường nào mà không thông, chí nguyện hướng dẫn thì không có công nghiệp nào mà không thành. Thành tựu công nghiệp là vì biết quên cái mình trọng để trọng cái mình quên.”
Trong Kinh Pháp Hoa Đức Phật dạy hành giả muốn tuyên thuyết chánh pháp phải “Vào nhà như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi toà Như Lai. Nhà như Lai là lòng đại bi đối với tất cả chúng sanh, áo của Như Lai là đức tánh nhu hoà nhẫn nhục, toà Như Lai là tất cả pháp đều không” . Muốn thực hiện tâm đại từ bi thì phải khoác mặc năng lực ấy để chế ngự tất cả chán nản, lù̀i bước, mà kiên nhẫn tiến tới. Vì thế giáo lý của Đức Phật không đưa con người đi sâu vào những lý luận siêu hình, viễn vông vô ích, mà là đưa con người trở về với cuộc sống hiện thực để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện tại. Đứng trên lập trường đó hành giả Bồ tát luôn tuỳ thuận mọi hoàn cảnh và căn cơ chúng sanh để tuỳ duyên hoá độ. Ngay thời kỳ Đức Phật còn tại thế, có rất nhiều vị Thánh Tăng “trong ẩn hạnh Bồ tát, ngoài hiện tướng Thanh văn”. Đó là những con người trì chí, nhẫn nại đi khắp hang cùng ngõ hẻm để khai thị con người biết khả năng vô biên sẵn có của họ. Điển hình qua hình tượng của Bồ tát Thường Bất Khinh. “Tôi không dám khinh quý Ngài vì quý Ngài đều sẽ thành Phật”.. Dù bị mọi người chưởi mắng đánh đập, xua đuổi Bồ tát Thường Bất Khinh vẫn an nhiên, hân hoan và luôn luôn an trú trong tâm hạnh từ bi, hỷ xả.
Luận Bảo Vương Tam Muội có đoạn “Đức Phật thiết lập chánh pháp lấy khổ đau làm thuốc hay, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai góc làm giải thoát, lấy ma quân làm bạo dạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ phản ngịch làm người giao du, xem sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm sự vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thủ, thế cho nên người Phật tử ở trong chướng ngại mà vượt qua chướng ngại ”. Đây chính là những phương thức ứng xử tuyệt vời của các bậc Bồ tát. Các vị Bồ tát luôn lấy chất liệu khổ đau để nuôi dưỡng lý tưởng độ sanh, làm nở hoa giải thoát ngay trên mảnh đất tam giới nhiễm ô. Đây cũng chính là phương thức giáo dục của Phật giáo theo tinh thần của Bồ tát đạo. Hành giả đi trên con đường Bồ tát phải luôn nhận chân được mình là ai, và mục đích của mình đang đi là gì, nhận chân được giá trị của cuộc sống mình đang sống mới có thể nhẫn nại vượt qua được mọi chướng duyên, mọi nghiệp cảnh để đi tới chân trời giác ngộ và đem lại hạnh phúc và hoà bình cho nhân loại.
Với giáo lý từ bi, Phật giáo đã khẳng định một nguyên lý muôn đời rằng, hận thù hay bạo lực không thể dập tắt mọi xung đột hay mâu thuẫn trong cuộc sống, chỉ có tình thương mới có thể xoa dịu những trái tim thù hận và tàn bạo.
“Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Không hận diệt hận thù
Là định luật ngàn thu”.
(Pháp Cú số 5)
Câu Pháp cú trên thật sự là một điệp khúc hoà bình của Phật giáo đã vang vọng cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ. Đức Phật luôn khuyên mọi người hãy lấy tình thương xoá bỏ hận thù, vì thế chúng ta phải mở rộng lòng mình để cảm thông, chia xẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Nếu như chồi nụ từ bi bị héo úa, tàn lụi thì xã hội loài người sẽ rơi vào những thảm cảnh bi đát và đau thương.
